Tài Liệu Hằng Tháng
Trang Nhà
Sinh Hoạt
Tài Liệu(2011)
Tài Liệu(2010)
Tài Liệu
Hình Ảnh (2011)
Hình Ảnh (2010)
Hình Ảnh (2009)
Hình Ảnh
Âm Nhạc
Video (2011)
Video (2010)
Video (2009)
Video
Những Ngôi Nhà Thờ Cổ VN (Video)
Nhạc Chủ Đề
Ngôn Ngữ­
Tài Liệu Hằng Tháng

Nhạc Chủ Đề Tháng 1

Nhạc Chủ Đề Tháng 2

 

Hãy Bấm Vào Những Hàng Chữ Có Gạch Dưới Trên Đây Để Nghe Được Nhạc Chủ Đề. 

**************************

 


Bấm vào hàng chữ dưới đây để nghe "Bài Không Tên Số 29" (Em Là Tặng Phẩm Từ Trời) của nhạc-sĩ Vũ-Thành-An do ca-nhạc-sĩ Diamond Bích-Ngọc trình bày:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=oK5JBXXWCd

***************************************************************

  

VALENTINE: NGÀY LỄ TÌNH-YÊU.

Ngày xửa ngày xưa, dưới thời cổ-đại La-Mã, ngưòi ta chọn ngày 14, tháng 2 dương-lịch hằng năm làm ngày lễ vinh-danh “Juno”.  Đây là tên một vị Hoàng-Hậu của cả Thánh-Thần La-Mã; “Juno” còn được coi là Nữ-Vương của phụ-nữ và hôn-nhân.  Ngày hôm sau 15, tháng 2 là ngày lễ-hội “Chó Sói” ( Festival of the Wolf ), là một trong những ngày lễ trọng đại của hoàng-triều La-Mã thời bấy giờ. 

Từ 800 năm trước khi có ngày Valentine, người La-Mã đã có tục cử hành lễ vô-thần “Lupercalia Festival” vào giữa tháng 2.  Buổi lễ đánh dấu bằng một cuộc rút thăm.  Những thanh-niên rút tên của các thiếu-nữ từ trong một lọ bằng sành.  Trong thời-gian hành lễ, từng cặp trai gái này vui đùa nhảy múa với nhau.  Người con gái cặp với thanh-niên nào, sau đó sẽ trở thành bạn đời của anh ta.  Để chấm dứt những buổi lễ vô thần ấy;  Đức Giáo-Hoàng Gelasius (năm 498 A.D) đã hạ lệnh thay đổi đôi chút về cuộc rút thăm,  thay vì rút lấy tên của các thiếu nữ; hộp đựng tên sẽ mang tên của các vị Thánh.  Cả thanh-niên cũng như thiếu-nữ đều có quyền rút thăm từ chiếc hộp này.  Mục đích của trò chơi là để họ hướng theo đời sống của các vị Thánh cho suốt những ngày còn lại trong năm đó.

Mặc dầu tục lệ rút thăm tên các thiếu-nữ đã bị Giáo-Hội cấm đoán nhưng trong ngày lễ vinh-danh Thánh Valentine vào giữa tháng 2 vẫn được các thanh-niên La-Mã tiếp tục để mưu tìm tình-yêu của phụ-nữ.  Lễ này trở thành một truyền thống, dựa theo đó người thanh-niên viết những lời tình-tự cho người phụ-nữ họ ái-mộ.  Những lời tự-tình này có mang tên Thánh Valentine.  Có lẽ từ đó đã bắt đầu cho việc dùng tên của Thánh Valentine cho ngày lễ hội.

Ngày Valentine bắt nguồn từ nhiều thế-kỷ trưóc, khi người Ki-Tô-Giáo còn bị coi là phạm-nhân.  Tương truyền rằng:  Đại-Đế La-Mã Claudius II;  người đã cấm đoán lính của ông ta không được thành-hôn, vì ông muốn cho họ trở thành những người không còn trái tim và trở nên những binh-sĩ dũng cảm, không bị ràng buộc bởi bầu-đoàn-thê-tử.  Claudius đã ra lệnh không cho cử hành hôn-lễ cùng tất cả những vụ đính-hôn phải bị hủy bỏ ngay lập tức.  Thế nhưng có một Linh-Mục tên Valentine không chịu chấp hành luật-lệ này của Đại-Đế.  ( Cũng giống như Cha Lorenzo trong truyện Roméo and Juliett);  Linh-mục Valentine đã bí-mật làm lễ thành hôn cho nhiều người tại thành La-Mã, sau đó ít lâu khi việc làm này bị phát-giác.  Cha Valentine bị cầm tù.

Đây là một vị Linh-Mục thông-thái, dịu hiền được mọi người quý-mến.  Họ đã yêu-cầu Đại-Đế La- Mã trả tự-do cho Cha, người ta cũng bắt đầu gửi thư cùng gửi hoa vào nhà giam cho Cha Valentine.  Nhiều chuyên-gia sau này cho rằng đây là những lá thư và những bó hoa được gửi đầu tiên cho lễ Valentine.

Linh-Mục Valentine sau đó đã qua đời trong ngục tối.  Tục truyền cho rằng những người thân quen đã chôn cất Cha trong một Nhà Nhờ vào ngày 14, tháng 2 năm 270A.D (sau công-nguyên).

Một câu chuyện khác cho rằng Valentine là một người Ki-Tô-Giáo, vì đã giúp đỡ cho những người Ki-Tô tử đạo nên Valentine đã bị kéo đến trước cổng thành La-Mã và bị giam vào ngục.  Tại đây, Valentine đã phải lòng và yêu-thương cô Julia ( người con gái của cai-ngục Asterius) và chữa được bệnh mù mắt cho cô nàng.  Khi tin về phép lạ này lan truyền ra ngoài, các lãnh-tụ La-Mã đã hạ lệnh chặt đầu Valentine.  Buổi sáng ngày hành-quyết, Valentine đã gửi cho Julia một lá thư vĩnh-biệt có ký rằng: “Thư từ Valentine của em”; nguyên-tác là “From your Valentine”.

Lịch-sử cũng ghi rằng: ngày Valentine đầu tiên của thời hiện-đại đã khởi đi khoảng đầu thế-kỷ 15.  Một vị Huân-Tước trẻ người Pháp bị bắt trong trận chiến Argincourt và bị giữ làm tù-binh trong tháp London.  Trải qua nhiều năm, Huân-Tước này từ trong ngục thất đã làm nhiều bài thơ gửi về cho vợ ký tên là: “Charles, Duke of Orleans”.  Trong số đó vẫn còn truyền lại được khoảng hơn 60 bài thơ hiện nay đang lưu-trữ trong văn-khố Hoàng-Gia của bảo-tàng Anh-Quốc.

Nói về Hoa (Flowers) biểu hiện cho Valentine:  Hoa xuất hiện khoảng thế-kỷ 17.  Lúc bấy giờ cô Công-Chúa con Vua Henrry IV (người Pháp).  Đã tổ chức một buổi tiệc để vinh danh Thánh Valentine.  Trong bữa tiệc này, mỗi phụ-nữ nhận được một bó hoa do chàng thanh-niên mà nàng chọn làm người Valentine của mình trao tặng.

Người ta cũng tin rằng vào đầu thế-kỷ thứ 17, những người yêu nhau bắt đầu trao đổi kỷ-vật nhân ngày lễ Valentine.  Có lẽ tương tự như những lời trong vở kịch “Hamlet” của  William Shakespeare: “ Sweet To The Sweet”,  tạm dịch là:  “Ngọt Ngào Dành Cho cưng Yêu Dấu”.

Trong thời Trung-Cổ, người Âu-Châu tin rằng loài chim chọn ngày 14, tháng 2 để cặp đôi.  Thời kỳ này, người Anh bỏ tên của thanh-niên và thiếu-nữ độc thân vào một chiếc hộp, sau đó rút ra từng cặp.  Mỗi cặp có tên rút thăm sẽ trao đổi quà cho nhau, người con gái trở thành Valentine của người thanh-niên này cho đến hết năm đó.  Anh ta phải viết tên nàng trên tay áo, đồng thời chàng sẽ nguyện bảo-vệ cùng phục tùng nàng.  Từ đó có câu: “ Chàng Vẽ Trái Tim của Chàng Trên Áo”  (He Wrote His Heart On His Sleeves).

Thần “Cupid” cũng là một biểu tượng khác của ngày Lễ Tình-Yêu.  Thần “Cupid” là con trai của “Venus” (vị Thần Tình-Yêu và Sắc-Đẹp của người La-Mã), hình ảnh của Thần “Cupid” vẫn xuất hiện trên những tấm thiệp Valentine ngày nay.

Người ta ước tính rằng người Mỹ bắt đầu trao đổi những tấm thiệp Valentine làm bằng tay vào khoảng năm 1700.  Đến năm 1840, Esther A Howland bắt đầu bán những tấm thiệp đầu tiên trong ngày Lễ Valentine tại Hoa-Kỳ.  Tấm thiệp lâu đời nhất của Esther A Howland hiện vẫn được trưng bày trong Bảo-Tàng-Viện Anh-quốc.

Dựa theo thống-kê của Hiệp-Hội Thiệp-Mừng (Greeting Card Association) của Hoa-Kỳ, mỗi năm có khoảng 1 tỷ  tấm thiệp Valentine người ta gửi tặng nhau (số lượng nhiều hạng nhì sau thiệp Giáng-sinh).  Một nghiên cứu khá ngộ nghĩnh đó là 85% tổng số thiệp Valentine được gửi đi từ phụ-nữ.

Lễ Tình-Yêu không những rộn ràng ở Hoa-Kỳ vào ngày 14, tháng 2 dương-lịch hằng năm mà khắp mọi nơi như Canada, Mexico, Liên-Hiệp-Anh, Pháp và Úc người ta cũng đều mừng Valentine.  Như một nhắc nhở trong tận cùng đáy tim của mỗi người chúng ta.  Ai ai cũng đều mong ước có một tình-yêu đôi lứa chân thành, chung thủy, vĩnh-cửu. 

Hãy sưởi ấm lại tình-yêu: gia-đình, bạn hữu, nhất là tình-yêu lứa đôi bằng những ân cần chân tình trao nhau trong mùa Lễ Tình Yêu.  Như những câu thơ dễ thương ngàn đời của tác-giả Huy-Cận:

“ Ai yêu xin mời đến.

Tình-Yêu không có nhà.

Nhưng đôi lòng hò hẹn.

Nghìn năm một cảnh mà!...”

***************

“Nguyên-Đán” là chữ Nho; diễn nghĩa theo chữ nôm ý chỉ: “Những buổi rạng đông của sự khởi đầu”; khởi đầu cho Năm, Tháng và Mùa.  Người Việt-Nam chúng ta phân chia thời-gian dựa theo sự vận hành của mặt trăng, mỗi Tháng được bắt đầu vào ngày của tuần trăng mới và Năm cũng khởi đầu vào tuần trăng mới đầu tiên tiếp theo lúc mặt trời ra khỏi Chí-Tuyến-Nam.  Như vậy, Tết dựa theo sự vận hành của mặt trời lẫn mặt trăng.  Nó mở đầu Mùa Xuân, vì thế Tết bao giờ cũng rơi vào thời-gian của hạ tuần tháng Giêng hoặc trung-tuần tháng Hai dương-lịch.

Việc chuẩn bị cho Tết Nguyên-Đán bắt đầu ngay sau ngày cúng Thần Bếp, nhằm ngày 23, tháng Chạp (Âm-Lịch).  Thần Bếp chính là Táo-Quân (thường hay bị nhầm lẫn với Thổ-Công hay Thổ-Địa).  Để phân biệt Thổ-Công và Táo Quân thì Thổ-Công được trình bầy trên bàn Thờ bằng một cặp vợ chồng, còn Táo-Quân là một bộ ba; gồm một Thần Nữ có hai Thần Nam kề bên.  Theo lời dậy truyền của các nhà Nho, người ta thường công nhận rằng Thổ-Công được gộp trong bộ ba đó; gồm Thổ Kỳ, Thổ Địa và Thổ Công.  Các vị này được tiêu biểu bằng ba hòn gạch xếp thành cái kiềng đun bếp.  Hòn thứ nhất tiêu biểu cho “Đất Nước” nói chung.  Hòn thứ hai là “Đất trong Nhà” và hòn thứ ba là “Thần Bếp”.

Theo truyền-thuyết kể rằng: ngày xửa, ngày xưa có đôi vợ chồng, người chồng tên Trọng-Cao; vợ là Thị-Nhi.   Vì ở với nhau mãi mà không có con cái nên tính tình họ trở nên cáu gắt.  Rồi đến một ngày kia Trọng-Cao trở thành kẻ nghiện rượu và cờ bạc hư hỏng; lại đối xử ngược đãi với vợ mình là Thị-Nhi.  Nàng bỏ nhà ra đi, sau đó tái hôn với  Phạm-Lang, là một người chồng tốt chăm chỉ ruộng vườn, thương yêu nàng hết mực.  Thị-Nhi và Phạm-Lang sống rất hạnh-phúc bên nhau, trong khi Trọng-Cao - người chồng cũ của nàng sống cảnh cơ-hàn, phải đi ăn xin khắp các nẻo đường.  Đến một ngày kia Trọng-Cao đói lả người, ngã trước cửa nhà Thị-Nhi.  Nàng nhận ra người chồng cũ; đem lòng thương-xót, cho anh vào nhà ăn uống.  Trọng-Cao khốn khổ ăn xong thì ngã lăn ra đất mà ngủ.  Thị-Nhi thấy Phạm-Lang chồng của mình sắp trở về nhà bèn khiêng Trọng-Cao dấu kín vào trong một đống rơm ở giữa đồng.  Nào ngờ sau bữa cơm tối, trước khi đi nghỉ Phạm-Lang nghĩ đến công việc là phải đốt rơm để sáng hôm sau rắc tro lên thửa ruộng lúa mà cầy.  Phạm-Lang vô tình châm lửa vào đống rơm có Trọng-Cao đang ngủ say trong đó,  Thị-Nhi thấy lửa cháy và nghĩ mình là nguyên-nhân vụ ngộ sát Trọng-Cao, rồi để tự trừng-phạt nàng lao vào ngọn lửa.  Phạm-Lang yêu vợ tha thiết, thấy thế cũng nhảy theo nàng.  Người đầy-tớ trung-thành trong nhà nhìn thấy ông-bà chủ chân tay co quắp trong đống lửa hồng nên cũng lao đầu vào chết theo.

Về sau, người ta đặt tên cho hòn đá đặt hai bên bếp lửa là “Ông”; nhắc lại hai người chồng.  Hòn đá đặt phía trước là “Bà”; hiện thân của người vợ.  Có một viên cuội đặt trên than để không cho lửa cháy quá nhanh đó là hòn “Lộc”; tiêu-biểu cho người đầy-tớ trung-thành.  Thượng-Đế ở trên Trời xúc động trước tấm bi-kịch này bèn giao cho họ trông nom bếp núc của tất-cả các gia-đình trên thế-gian và đánh-giá mọi hành-vi của con người trong năm.  Sau đó sẽ trình tấu lên Ngọc-Hoàng Thượng-Đế vào ngày 23, tháng Chạp (Âm-Lịch).

Cho đến ngày hôm nay, ở Việt-Nam rất nhiều người vẫn tìm mọi cách lấy lòng các vị Thần Bếp đó, họ cúng cho các vị này một bữa cỗ thật thịnh-soạn, đốt cho các Thần những chiếc mũ tuyệt đẹp trang điểm hoa sặc sỡ, nhiều thoi vàng và bạc bằng hàng mã (giấy).  Người ta thả xuống khúc sông gần nhất những con cá Chép dùng làm ngựa cho các Thần đó cưỡi trên chặng đường mây dài từ Đất lên Trời hầu mong được ơn phúc.  Hủ-tục này cũng bị người đời châm-biếm vì những sự ác-độc của con người trong năm, họ không hoán cải sống thiện, sống lành.  Chỉ mong làm vui lòng Táo Ông, Táo Bà để lập công với Thượng- Đế trong việc cúng tế mà thôi.

Ngày mùng 1 Tết Nguyên-Đán theo phong-tục, tập-quán của người Việt-Nam xưa kia, người ta thổi ống Tiêu để đoán tính chất điều-kiện khí hậu trong suốt một năm.  Người ta cũng uống rượu để xua đi các hơi lạnh và tử-khí.  Ngoài ra còn có một hủ-tục nữa là tục “Đốt Vàng Mã” nhằm xua đuổi hiểm-họa, binh đao.  Người ta giặt quần áo để tránh mọi bệnh tật đồng thời may áo mới để tránh sự khốn khó suốt trong năm.

Xưa kia ở miền Bắc, trước nửa tháng Tết, những Ông Thầy Đồ ra chợ trải chiếu ngồi để viết câu đối bán.  Người nào đi buôn hoặc đi làm ăn xa xôi đều nghỉ việc để về nhà ăn Tết.  Những ngày cuối năm ai nấy cũng dọn dẹp, chùi rửa mọi vật dụng, nhất là các lư-hương trên bàn Thờ sáng choang.  Có người dán tranh Quan-Tướng trước cửa nhà hoặc dán bốn chữ “Thần Trà - Uất Lũy”, nhằm để ma quỷ sợ không dám vào nhà họ (theo điển tích đây là tên hai ông Thần ở dưới một gốc cây đào lớn thuộc núi Độ-Sóc; cai quản đàn Quỷ dữ.  Hễ Quỷ nào làm hại nhân-gian thì Thần ấy sẽ giết đi mà ăn thịt).   Có nhiều nhà chặt tre làm cây Nêu hoặc lấy cành Đa, lá Dứa cài ngoài cửa ngõ hoặc rắc vôi bột, vẽ bàn cờ, cái Cung, cái Nỏ trong sân… Tất cả đều có ý trừ Quỷ, không muốn chúng vào nhà họ quấy phá trong năm mới.

Nửa đêm 30, rạng sáng mùng 1 Tết, nhà nào cũng bày Hương-Án ra giữa sân để cúng Giao-Thừa.  Ở những thôn xóm nhỏ trong làng quê họ cúng Tế nơi có trống đánh và pháo đốt.  Tập tục nước ta tin rằng mỗi năm đều có một Ông Hành-Khiển coi việc nhân-gian, hết năm thì Thần nọ bàn-giao công việc cho Thần kia, cho nên việc cúng tế là để tiễn đưa “Ông” cũ và đón “Ông” mới về.

Đến sáng mùng 1 Tết phải làm cỗ cúng Gia-Tiên, có bánh-chưng, giò chả, dưa hành… Người miền Nam thường cúng ngũ quả, trong đó bắt buộc phải có: Mẵng-Cầu, Dưa-Hấu, Dừa, Đu-Đủ, Xoài. Ý cầu xin Trời Phật, Ông-Bà  cho được: “Cầu Vừa Đủ Xài” (tiếng miền Nam phát âm trại từ “Vừa” thành “Dừa”, “Xoài” thành “Xài” ).   Có nhà dựng hai cây Mía cạnh bàn thờ để làm gậy chống cho “Ông Vải”. 

Trong ngày này ai ai cũng phải giữ-gìn từng  “lời ăn, tiếng nói” vì họ sợ nói bậy sẽ “Dông” cả năm.  Nhiều gia-đình nhờ một người phúc-hậu, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, nhân-từ; sáng sớm mùng 1 Tết đến “Xông Đất” nhằm mưu cầu cho cả năm mọi người trong nhà được mọi sự may mắn tốt lành, không bị đau ốm vặt.

Có người kiêng không được quét nhà hoặc hốt rác, chỉ vun vào một xó, đợi sau ba hôm động-thổ rồi mới đem đi đổ.  Tục truyền kể rằng trong “Sưu Thần-Ký” của Trung-Hoa có câu chuyện một người làm nghề lái-buôn tên Âu-Minh một hôm đi qua hồ Thanh-Thảo, Thủy-Thần cho một nàng tên Như-Nguyện theo chân về nhà hầu hạ Âu-Minh được vài năm, chàng trở nên giàu có.  Vào ngày mùng 1 Tết năm ấy, Âu-Minh say khướt trở nên hung-hãn đánh đập Như-Nguyện, nàng hầu sợ quá chui vào đống rác rồi biến mất về với Thủy-Thần.  Từ đó trở đi cơ-nghiệp nhà Âu-Minh sa sút trầm trọng.  Theo tục này, người ta kiêng không dám hốt rác trong ba ngày Tết vì sợ bị khó nghèo.

Cũng trong mùng 1 Tết Nguyên-Đán, cúng Gia-Tiên xong, con cháu quây quần quỳ cúi lậy hai lậy dưới chân Ông Bà, Cha Mẹ để “Mừng Tuổi”.  Sau đó Ông Bà, Cha Mẹ cũng “Mừng Tuổi” lại bằng cách “Lì-Xì” cho con cháu.

Người xưa có câu: “Mùng 1 Tết Mẹ, Tết Cha.  Mùng 2 Tết Chú, Mùng 3 Tết Thầy”.  Họ hàng thân-tộc, thầy trò, bạn hữu, xóm giềng đến nhà nhau chúc Tết với những câu như: “Thăng Quan, Tiến Chức”, “Sinh Năm, Sinh Bảy”, “Vạn Sự Như Ý”, “Buôn Bán Phát Tài”, “Học Hành Tấn Tới”, “Sức Khỏe Dồi Dào”…

Trong những hôm Tết, có người chọn ngày hợp tuổi, giờ tốt để “Xuất Hành” đúng hướng, người đi Chùa hái Lộc (hoa trái) về cài vào cửa nhà.  Người làm Quan chọn ngày “Khai Ấn”.  Học-Trò chọn ngày “Khai Bút”.  Người buôn bán chọn ngày mở cửa hàng.  Nông-Phu chọn ngày tốt để làm “Lễ Động-Thổ”… Tất cả đều mưu cầu mọi sự may mắn, tốt đẹp cho trọn năm tới.

Tết Nguyên-Đán ngày xưa bắt buộc phải có đốt pháo.  Điển tích này trong “Kinh Sở Tuế Thời Ký” của người Tàu kể rằng Sơn-Tiêu (tức là Ma Núi) trong ngày đầu năm khi chạm vào người nào, người đó sẽ bị đau ốm cả năm.  Nó chỉ sợ tiếng pháo, hễ đốt pháo thì nó sẽ không dám đến gần người ta.   Nhưng theo truyền-thuyết của người Việt-Nam thì tiếng pháo nổ dòn tan là tiếng vui mừng đón Xuân chứ không có ý trừ ma quỷ.

Sau ba ngày Tết, sang mùng 4 dân-gian có hủ-tục “Hóa Vàng” (đốt những tờ tiền, quần áo, nhà xe… bằng hàng mã dùng để cúng người quá-vãng với hy-vọng họ dùng được trong thế-giới bên kia).  Nếu rơi đúng vào ngày kỵ tuổi của chủ nhà thì họ sẽ “Hóa Vàng” trước hay sau một ngày đều được.

Các truyền-thống cổ xưa không còn được áp dụng nhiều vào ngày nay.  Nhưng chẳng có biến cố nào của thế-giới bên ngoài có thể cướp đi ở người Việt-Nam nghèo nhất đến kẻ giàu nhất niềm vui đón Tết-Nguyên-Đán.

Ngày xưa vào năm 1789. Vua Quang-Trung đã phải cho binh-sĩ  ăn mừng Tết Nguyên-Đán trước mấy ngày rồi mới bất ngờ phục kích quân Trung-Quốc đóng ở Hà-Nội vào giữa ngày Lễ Hội Truyền-Thống trước khi nhà Vua tiến quân đánh chiếm lại xứ Bắc, Việt-Nam.

Trong thời-kỳ chiến-tranh khốc liệt nhất các chiến-sĩ Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa cũng đón Xuân nơi tiền đồn khi thấy mai vàng khoe sắc thắm và trong các học-đường thường tổ-chức “Cây Mùa Xuân cho Chiến-Sĩ” nhằm gửi quà, khăn quàng hay áo ấm đến những anh-hùng nơi tuyến đầu tổ-quốc.  Tôi còn thuộc lòng một bài “Ám Đọc” thời niên-thiếu:

“Mùa Xuân đến nơi xa trường gió lạnh.

Người quân-nhân lăn lộn với gió sương.

Gia-đình em đang sống cảnh yêu thương.

Em đâu nỡ quên chàng trai dũng-mãnh.

Đây chiếc áo len đan trong đêm lạnh.

Nền xanh lam thêu đậm nét vàng tươi.

Em gửi tặng chàng chiến-sĩ xa xôi.

Để ấp ủ lòng người nơi biên ải”

Đã trải qua mấy mươi cái Tết biệt xứ tha hương.  Giờ tôi mới nhớ ra mùa Tết năm đó cũng là cái Tết đầu tiên tôi biết đan áo và khăn quàng; không biết chiếc áo và khăn quàng do chính tay tôi đan gửi anh lính-chiến ngày xưa giờ đi về đâu cũng như “Anh” đang lưu lạc chốn nào?  Nhưng tôi chắc chắn rằng lòng tri-ơn chân tình quý trọng của tôi dành cho “Anh” là muôn đời, bất di-bất dịch.  Cảm-ơn “Anh”; các Cựu Quân-Nhân cùng những Quân-Đội Đồng-Minh trong mọi binh-chủng;  những người đã hy-sinh canh giữ biên thùy, cho tôi mừng bao nhiêu cái Tết Nguyên-Đán nơi thành-phố Saigon vô cùng an-bình hạnh-phúc năm xưa. 

Ngày hôm nay, trong Cộng-Đồng Việt-Nam nhỏ bé tại quận Cam.  Các anh, các bác, các chú tuổi đã lớn, cưu mang nhiều bệnh-tật từ những tháng năm tù đày cải-tạo.  Phải nằm điều-trị trong các Nursing-Home.  Hơn mười một năm qua, nhóm Chân-Quê chúng tôi chỉ biết đáp trả lại bằng cách đến sinh-hoạt cuối tuần, dùng âm nhạc như một phương thuốc trị-liệu; mang tin-yêu, nụ cười, lòng cảm-thông trong tinh-thần chia xẻ thành-tâm như huyết-thống trong một gia-đình. Thêm một mùa Xuân lại trở về, Chân-Quê xin mượn bài thơ “Xuân Ý” của thi-sĩ Huy-Cận để làm món quà đầu năm cho quý độc-giả trên khắp cùng bốn bể, năm châu: 

“Đêm vừa nhẹ, gió vừa mơn

Cây chen ánh nguyệt trải vờn bóng xanh

Khuya nay mùa đậu đầu cành;

Đồng trăng lục nhạt, vàng thanh lối gần.

Trăng êm cho gió thanh-tân;

Hương rừng tỉnh dậy ái-ân xuống đồng.

Đêm nay, không khí say nồng,

Nghìn cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi…

Khuya nay, trong những mạch đời,

Màu thanh-xuân dậy thức người héo hon.

Ngón tay tưởng búp xuân tròn,

Có người ra dạo vườn non thẫn thờ.”

****************************************************

Lời giới-thiệu: những ngày đầu Xuân Nhâm-Thìn sắp đến.  Một trong những "hủ-tục" của người Việt chúng ta là đánh bài đầu năm để vận-đoán "hên - sui".  Trước cửa và bên trong một số cửa hàng của thương-xá Phước-Lộc-Thọ của ông Triệu-Phát làm chủ; trên đường Bolsa, thành-phố Westminster, California. USA; nơi đươc mệnh-danh là "Thù-Phủ của Little Saigon";  nhan-nhản những hàng "Bầu Cua Cá Cọp", các sòng "Bài Cào", "Xì-Phé" sát-phạt nhau không thương-tiếc.  Có năm Hội-Đồng Thành-Phố ra lệnh cấm tuyệt-đối màn "mượn gió bẻ măng" của người Việt Tỵ-Nạn kiếm tiền bất hợp pháp này.  Nhân đọc được một bài viết rất hay của tác-giả Long-Nguyễn trên trang báo điện-tử “Cali Today”.  Chúng tôi thấy cần có nhiệm-vụ phổ-biến rộng rãi nên mạn phép tác-giả đăng lại trên Web-Site này.  Xin thay mặt các độc giả trên khắp địa-cầu, chân-thành cảm-ơn tác-giả Long-Nguyễn.

Mời Đọc "Người Việt và nạn cờ bạc".  Trích từ On-Line: “Báo Cali Today”.

Friday, 30 December  2011 20:53’

Tác-giả: LongNguyễn

Cali Today News - Da đỏ muôn năm. Da trắng cũng muôn năm. Da vàng không muôn năm. Vâng chỉ người Việt chúng ta không muôn năm.

Thực thế, xin chia buồn với tất cả người Việt chúng ta rằngchúng ta ngày càng hư đốn. Nếu thập niên trước, cờ bạc là một trò giải trí xa lạ ít ai người đi chơi (phải lái xe vài tiếng đồng hồ trên một con đường lạ hoắc) thì bây giờ mỗi cuối tuần, đường đi các casino đông như người Ả Rập trẩy hội Ramadan.

Theo truyền thống thì ở Việt Nam ta, người lớn tuổi mới cờ bạc. Các bạn trẻ có biết bao nhiêu thứ hấp dẫn để bận rộn. Nào là thời trang,son phấn, nào là hẹn hò trai gái, nào bài vở học hành. Người da đỏ biết tỏng và chúng không buông tha các bạn trẻ. Trẻ tuổi ai lại chẳng thích ca nhạc, bỏ vài tiếng lái xe lên sòng bài mỗi tuần một lần, xem thả giàn không tốn tiền. Hấp dẫn lắm chứ nếu phải bỏ vài chục đô một vé xem đại nhạc hội thỉnh thoảng được tổ chức để gây quỹ từ thiện gì đấy. Mỗi năm họa may có một, hai lần. Trồng cây 10 năm, trồng người 100 năm. Các bác da đỏ biết thế. Các em không khứng đánh bài thì vào đây xem ca nhạc cái đã, ở nhà làm gì. Cờ bạc không khó học, lâu dần sẽ biết.

Người người ríu rít hẹn nhau lên xem Như Quỳnh, Trường Vũ, Như Loan và các ca sĩ thượng thặng hải ngoại khác trổ tài ca hát. Các Casino khác không chịu thua. Họ cử người qua Việt Nam mời cho bằng được Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Phương Thanh bất kể chi phí. Một ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn, tiền bảo lãnh, tiền cát sê, tiền đút lót cho các cơ quan, có thể lên đến 10,000 đô la. Một cuộc chiến tranh lạnh giữa các Casino ngấm ngầm diễn ra. Anh có Lam Trường thì tôi cũng có Quang Linh, thử coi ai hơn ai?

Tại sao người da đỏ quan tâm đến chúng ta thế nhỉ? Họ thuộc vanh vách ngày nào là tết Nguyên Đán, Trung Thu, Giỗ tổ Hùng Vương, là Hoa Hậu Áo Dài… Chúng ta nên dành một chút thì giờ tìm hiểu tại sao chúng ta dễ lậm cờ bạc và tại sao, người da đỏ thương chúng ta đến thế.

Một nghiên cứu gọi là the South Oaks Gambling Screen, xúc tiến bằng cuộc thăm dò 96 người Việt, Kampuchia và Lào. Kết quả cho thấy loại cờ bạc suốt đời lên đến 59%. Hơn 50% chơi cờ bạc trong vòng 2 tuần và 42% thua 500 đôla trong vòng 2 tháng . Kết quả này chưa nói lên điều gì rõ rệt ngoài việc chúng ta cần tìm hiểu về xã hội, môi trường, văn hóa liên hệ đến cờ bạc của những người tị nạn Đông Dương. Những ngăn ngừa nhạy cảm về chủng tộc và những sách lược can thiệp cần thiết để đối phó với nạn cờ bạc lên đến mức phi thường so với người Mỹ và giống dân khác.

Theo cuốn Chỉ nam chẩn đoán và thống kê về bịnh tâm thần (The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) thì nghiện ngập cờ bạc là bịnh tâm thần, trong đó đầu óc người bịnh chỉ nghĩ về cờ bạc, mất mọi kiểm soát về đời sống cá nhân, gia đình,tiền bạc, nghề nghiệp và con cái. 1.9% người Mỹ mắc bịnh này và 3.9% thì có vấn đề cờ bạc giống tâm thần nhưng nhẹ hơn, mình thường gọi là bê tha, nguyên do vì thói quen xấu hơn là tâm thần.

Người ta chọn Connecticut làm thí điểm, nơi có 4000 người Lào,3500 Kampuchia và 10000 người Việt. Họ chọn 96 người tham dự cuộc nghiên cứu,trong đó có 30 người Lào, 30 Kampuchia và 36 người Việt. Kết quả 11 người Lào không có vấn đề, 3 có vấn đề (có vấn đề nghĩa là bê tha, tắc trách chứ không mắc tâm bịnh) và 16 người (28%) mắc bịnh ghiền cờ bạc. Người Kampuchia 5 không vấn đề, 7 có vấn đề và 18 bịnh (31%). Riêng Việt Nam chúng ta, 11 người không có vấn đề, 1 có vấn đề và kinh khủng thay, 24 người (41%) mắc bịnh ghiền cờ bạc. Nói dễ hiểu hơn, cứ 100 trự Việt Miên Lào mắc tật cờ bạc, Lào chiếm 28 trự, Miên 31 trự và Việt Nam ta 41 trự. Nhắc lại 1.9 % người Mỹ mắc bịnh ghiền cờ bạc và Việt Nam ta 41% mắc bịnh. Đẹp mặt con Rồng cháu Tiên và vinh quang cho dòng giống Lạc Hồng chưa?

Ôi cả một mạng lưới người da trắng lẫn da đỏ xâu xé cộng đồng người Việt chúng ta, chỉ vì chúng ta máu mê cờ bạc và điều này phơi bày một nguy cơ sâu xa hơn nữa: chúng ta quá cô đơn trong những vấn đề tinh thần như truyền thông, giáo dục con cái v.v...

Vâng chúng ta bị người Mỹ bỏ rơi. Chẳng những thế, truyền thông người Việt hải ngoại cũng bỏ rơi chúng ta. Trong cuốn Paris by Night 81 (hay 82) ông Nguyễn Ngọc Ngạn có nhắc đến cờ bạc sau màn hài kịch gì đó nói về xổ số. Ông chỉ nói vàicâu pha trò, vô thưởng vô phạt thôi. Có lẽ ông ngượng ngùng lắm vì không dám đả phá tệ nạn cờ bạc như trước đây trong tác phẩm Sau lần cửa khép của ông. Mỗi năm trung tâm Thúy Nga, trung tâm Vân Sơn hay Asia sản xuất được vài đĩa ca nhạc. Cho rằng mỗi ca sĩ được thù lao vài ngàn đô một lần. Lại còn tình trạng ca sĩ thuộc trung tâm này không được quyền hát cho trung tâm khác. Vậy thì một năm vài lần lấy gì sống mà có nhiều người bỏ cả nghề Luật sư, Bác sĩ lao đầu vào? Kiếp cầm ca có gì là vinh quang đâu?

Thưa có. Tuần nào họ cũng đi show cho các sòng bài khắp nước Mỹ, phục vụ các con bạc người Việt. Đó mới là nguồn lợi tức chính yếu. Mỗi show mỗi tuần 5,000 đô nhân cho 52 tuần trong năm. Cứ thế mà tính. Luật sư, Bác sĩ ăn thua mẹ gì.

Các MC cũng thế. Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên từng biết bao lần được mời làm MC cho các chương trình ca nhạc tại các sòng bài. Thử hỏi ai dám chống nồi cơm của mình?

Báo chí Việt Ngữ cũng không kém.

- "Chúng mình mở một mặt trận chống cờ bạc nhé." người viết có lần đề nghị thế với một chủ báo.

-"Thôi viết cái khác đi. Truyện ngắn, thơ hay tham luận gì cũng được. Nói về cờ bạc đụng chạm nhiều lắm. Tốt nhất là tâng bốc mấy cơ sở thương mại. Chẳng mất lòng ai." Các chủ báo nói thế.

Thảo nào mà báo chí trong vùng một mặt thì hô hào phục vụ cộng đồng, mặt khác thì tranh nhau đăng quảng cáo ca nhạc cho các casino. Ôi thật là trái khoáy.

Thỉnh thoảng ở chùa, nhà thờ cũng nói sơ về tệ nạn cờ bạc nhưng ý chừng dè dặt lắm vì ngay trong ban trị sự cũng có lắm cụ siêng năng việc bài bạc hơn việc thờ lạy, cúng bái. Các Cha các Sư càm ràm về cờ bạc nhiều quá các cụ nổi cáu. Mà hễ nổi cáu các cụ nghễnh ngãng việc đóng góp gây quỹ trong những dịp cần thiết. Các em gia đình Phật Tử, ca đoàn Công Giáo, nhóm Linh Thao, Hướng Đạo...v.v... ngồi trong nhà thờ, trong chùa mà cứ kháo nhau tuần này có ca sĩ nào trình diễn. Cứ y như Muckle Shoot, Snoqualmie, EQC mới chính là nước Giời  hay Niết Bàn vậy.

Ô hay. Chúng ta sống trong thời buổi gì mà trái thành phải, xấu nên tốt, đen thành trắng như thế? …

Và lạy Chúa tôi, ở hải ngoại chúng con, chống cờ bạc thì mất lòng lắm. Lạy Chúa! Nếu ngài không thể cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, thì tại sao bắt chúng con sinh ra trong một thời đại oái oăm như thế này?

                                                                                Tác-giả: Long-Nguyễn.

**********************

CÓ AI CÒN NHỚ ÔNG ĐỒ TRONG NHỮNG NGÀY HỘI TẾT?



Trong những ngày mừng Xuân ở Việt-Nam xưa kia, người ta thấy lúc nào cũng tưng-bừng náo nức không-khí hội hè. Nhất là ở miền Bắc:

Mùng bốn là hội Kéo-Co.
Mùng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mùng sáu đi hội Bồ-Đề
Mùng bảy trở về đi hội Đống-Cao

Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng trở về hội Gióng…


Những ngày hội Xuân ấy được tổ-chức ở các Đình, Chùa, Đền, Miếu. Nó thể hiện tình nghĩa xóm làng, tình-yêu thiên-nhiên, yêu nghệ-thuật và người dân lành có dịp tỏ lòng sùng-bái các anh-hùng Việt-Nam.

Hình ảnh ông Đồ nghèo không thể thiếu được vào những ngày Xuân. Trong mười ngày trước Tết; họ thường thuê một góc phố, hoặc họ ngồi ở ngay các vỉa hè để bán những băng giấy đỏ. Đôi khi rắc phấn vàng hay bạc, những tấm biển trang trí hoa mà trên đó họ viết những câu đối hay vẽ những bức hoành-phi. Nói đến năm bắt đầu, đến mùa Xuân đang mở ra, nói về gia-đình hay ý-chí của người gia-chủ. Họ cũng thường viết trên những mảnh giấy của khách hàng đưa cho họ để được trả công bằng một khoản tiền nhỏ.

Nếu trong năm vừa qua; gia-đình nào có người đã mãn-phần thì người ta dùng giấy màu vàng hay màu xanh. Những hiệu-lực được thừa nhận ở các màu sắc và ngôn-ngữ từ bút mực thần-kỳ của ông Đồ già; thúc đẩy mọi hạng người chi tiền. Họ mang về treo lên cửa, lên tường những băng giấy dài và đẹp này nhằm tạo vẻ ngoạn-mục cho những ngày Tết Nguyên-Đán.

Xưa kia, ở miền Bắc giá rét, những ông Đồ nghèo khốn khổ run rẩy trong tấm áo bông dài. Ngồi xổm trên chiếu; bán những chữ Hán cuối cùng của họ. Những chữ mà đối với nhiều người đã trở nên câm lặng, không nói lên được một điều gì cả.

Vào thế-kỷ thứ mười lăm (XV) có Vua Thánh-Tôn nhà Lê, trước ngày Tết Nguyên-Đán, Ngài thân-chinh đi vào các thành-phố của kinh-đô lúc sẩm tối để đánh giá những câu đối thảo bởi bút mực của các ông Đồ dán trên cửa nhà dân. Bỗng Vua thấy cửa nhà của một bà bán nước chè (trà) nghèo khó bên đường không có câu đối. Vua hỏi ra thì được biết chồng bà làm phu khiêng kiệu cho Vua. Ngài bèn đưa tiền cho bà, bảo đi mua giấy đỏ và mượn bút lông cùng mực. Rồi Vua bắt đầu viết câu đối sau đây; mà chữ nghĩa đều lấy từ kinh-điển. Sau đó bảo bà đem dán lên cửa:

“Tam Nhân Đồng-Hành Tất Hữu Ngã
Thiên-Lý Như Lại Diệc Lợi Ngô”

Có nghĩa là:

“Ba Người Cùng Đi Tất Trong Đó Có Tôi
Những Người Từ Ngàn Dặm Tới Chắc-Chắn Điều Đó Lợi cho Tôi”


Được diễn-nghĩa như sau:

Câu thứ nhất tả người chồng với người phu cùng khiêng kiệu đang khiêng người ngồi kiệu tức là nhà Vua.

Câu thứ hai ám-chỉ người vợ bán nước chè cho khách qua đường để mưu-sinh.

Rồi nhà Vua từ-giã ra đi mà không bảo mình là ai. Đi thêm vài bước, Vua thấy một ngôi nhà khác có vẻ nghèo khổ và xem ra chẳng chuẩn bị gì cho ngày Tết. Bước vào trong nhà, Vua thấy một người làm phu hốt rác, chẳng có gì để trang-trí cửa nhà, Thánh-Tôn đặt một thoi bạc vào tay người đàn ông khốn-khổ. Một lát sau người này mang giấy mực về trao cho Vua, Ngài viết đôi câu đối trở thành nổi tiếng như sau:

“Đội Nhất Xung Y Đởm Thế-Gian Tri Nan Sư
Tri Tam Xích Kiếm Thu Thiên-Hạ Tri Nhân Tâm”


Có nghĩa là:

“Khoác Chiến-Bào, Ta Lo Toan Những Việc Khó Trên Đời
Cầm Ba Thước Gươm Ta Thu Vào Tay Tấm Lòng Của Mọi Người Trong Thiên-Hạ”


Câu đối này ám-chỉ người hốt rác làm cái nghề thấp-kém nhất trên đời nhưng lại tạo sự vui lòng cho mọi người bằng cách đi thu-dọn tất cả rác-rưởi bẩn thỉu trên đường phố.
Đã biểu hiện ở tác-giả tình-cảm thầm-kín của một người lãnh thiên-mệnh, chịu trách-nhiệm về cuộc sống của muôn dân trong một chế-độ quân-chủ lập-hiến.

Sáng hôm sau, có một vị đại-thần trong triều đi qua đọc được đôi câu đối này liền vào cung tâu Vua trị tội kẻ khi-quân. Vua Thánh-Tôn đã mỉm cười nhận tội về mình.

Ngoài những câu đối đỏ này, người ta còn dán lên cửa chính nhiều mảnh giấy điều đơn-giản hình chữ nhật hoặc hình vẽ các ông Thần có bộ mặt dữ dằn nhằm xua đuổi lũ ma quỷ tai-ác hại người. Hình ảnh những vị Thần có khuôn mặt hiền-từ cầm hoa quả; tượng trưng cho sự giầu có và vinh-hiển. Ngoài ra họ còn treo những bức tranh có con gà mẹ cùng vô số lũ gà con chung quanh; nói lên điềm lành báo trước một sự phồn-thịnh hiếm có và đông con cháu trong ngày Tết Nguyên-Đán.

Nói đến thơ Xuân trong thi-ca Việt-Nam, ngày nay chúng ta không thể quên được một thi-sĩ thời tiền-chiến qua bài “Ông Đồ” đó là tác-giả Vũ-Đình-Liên. Một bài thơ trầm buồn sâu sắc với khung cảnh thay-đổi của thời-gian, như một lớp sơn vàng trên toà cổ-miếu lần lượt rã rời:

“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông Đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu.

Ông Đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài đường mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông Đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?


Hình ảnh ông Đồ nghèo cùng những xôn xao, nao nức mừng Xuân đón Tết Nguyên-Đán nơi quê nhà yêu dấu cũ; tưởng rằng đã chìm khuất, tưởng rằng đã đi vào quên lãng nơi xứ người của thân-phận tỵ-nạn tha-phương. Nhất là đối với các bệnh-nhân đang trị liệu tại những trung-tâm điều dưỡng (Nursing-Home) thuộc quận Cam, Hoa-Kỳ.

Nhưng không! Tất cả được nhắc nhở lại khi nhóm thiện-nguyện Chân-Quê hơn 11 năm qua đã mang không khí Tết đến thắp sáng rạng ngời; trong màu sắc rực rỡ của khăn đống, áo dài truyền thống Việt-Nam. Có cả pháo Tết nổ vang trời, xen lẫn tiếng nhạc, lời ca Xuân rộn rã, như truyền sức sống kỳ-diệu đến muôn người. 
Xin cầu mong Chúa Xuân rọi tình nhân-ái khắp chốn nhân-gian. Cho cuộc sống hôm nay đẹp như bài thơ “Xuân” của thi-sĩ tài-hoa Huy-Cận:

“Luống đất thơm hương mùa mới dậy
Bên đường chân rộn bước trai tơ
Cây xanh cành đẹp xui tay với
Sông mát tràn Xuân nước đậm bờ

Ồ những người ta đi hóng Xuân
Cho tôi theo với! Kéo tôi gần
Rộn ràng bước nhịp hương vương gót,
Nhựa mạnh tuôn trào tưởng dính chân

Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy
Trong cành hoa trẻ, cổ chim non.
-Có ai gửi ý trong Xuân cũ,
Đất nở muôn Xuân vẫn chẳng mòn”

************************* 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2012
******************

PHÁO BÔNG.

Nguồn gốc pháo bông đã có từ 2000 năm trước ở Trung-Hoa.

Huyền-Sử ghi lại rằng có một đầu bếp Trung-Hoa thời ấy, trong lúc nấu ăn khi nêm chất muối-đá (saltpeter)-không phải là muối-biển- vào thức ăn bị tràn lên bếp hồng khiến phát ra những tia lửa rất đẹp.  Sau đó họ cũng khám phá thêm là những thuốc súng nếu được đốt trong ống tre khi cháy sẽ nổ to và đẹp hơn nhiều.

Pháo Viên (Pháo Thẻ) được sản xuất sau đó trong thời đại “Song Dynasty” (960-1279) bởi một nhà Sư tên “Li Tian”, sống gần thành-phố “Liu Yang” trong tỉnh “Human”; những viên pháo này làm từ thuốc súng trong các cây măng . Pháo được dùng trong những ngày Tết của người Á-Châu nhằm mục-đích xua đuổi ma-quỷ với tiếng nổ lớn và màu sắc rực rỡ sáng chói.  (Ánh sáng tượng trưng cho Thần-Linh diệt trừ bóng tối của âm-khí, tà ma).

Đến thế-kỷ thứ 15, Pháo là hình-thức mừng cổ-truyền trong những ngày lễ mừng chiến-thắng của quân-đội và từng tràng pháo nổ bắt đầu được dùng để khai-mạc trong các tiệc Cưới.

Một giả-thuyết khác cho rằng pháo bông cũng đã được phát-minh từ nước Ấn-Độ và Ả-Rập (Arabia).

Trong khi đó thì “Marco Polo” là người được ghi công đã mang thuốc súng vào Âu-Châu ở thế-kỷ thứ 13.

Năm 1400, trung-tâm nhà máy làm pháo bông đầu tiên được thành-lập ở thành-phố Florence, nước Ý.

Đến năm 1553, pháo bông được biểu diễn lần đầu trong buổi diễn hành dành cho bà Anne Boleyn, Hoàng-Hậu thứ nhì của vua Henry thứ 8  (VIII); cũng là Thân-Mẫu của Nữ-Hoàng Elizabeth I (đệ Nhất) nước Anh.

Trong một quãng thời gian dài của năm 1700, Pháo-Bông dần dà được phổ-biến trong giới Hoàng-Tộc ở Âu-Châu, vua nước Pháp Louis XV (thứ 15) – (1715-1774) đã truyền lệnh cho triển lãm về pháo bông ở Versailles.

Một ông Hoàng, tên Peter I, còn có tên gọi là Peter the Great (1672-1725) người có công phát-triển Hoàng-Tộc nước Nga, đã cho bắn pháo bông suốt 5 tiếng đồng-hồ để mừng sinh-nhật con trai cưng của ông thời bấy giờ.

Cùng thời gian đó, ở thuộc-điạ Hoa-Kỳ (American Colonies) pháo bông bắt đầu được dùng để đánh dấu niềm vui của những lễ-hội.

Năm 1800, Trung-Hoa giao-thiệp mở đầu cho Pháo-Bông được nhập cảng vào Hoa-Kỳ qua người Hong-Kong làm trung-gian.  Vài năm sau 1990, Pháo-Bông được phép nhập cảng trực tiếp vào Hoa-Kỳ từ Trung-Hoa không qua bất cứ trung-gian nào.

Năm 2004, lần đầu tiên Disneyland dùng pháo bông bằng sức ép của không khí thay vì thuốc súng.  Để giảm bớt khói mù và Disneyland cũng tăng cường thêm tiếng nhạc vui phát ra từ các loa phóng thanh trong các buổi bắn Pháo-Bông cho thêm phần linh-động và hấp-dẫn.  ( Disneyland được xây cất đầu tiên ở thành-phố Anaheim, California. USA trong vòng 1 năm bắt đầu từ ngày 21, tháng 7 năm 1954 với kinh-phí khoảng 17 Triệu 500 ngàn đô-la).

Như một tập-quán tiền lệ, bây giờ Pháo-Bông được dùng trong ngày giao-thừa mừng đón năm mới ở Hoa-Kỳ (Count-down).  Pháo-Bông cũng được dùng ở Liên-Hiệp-Anh (United Kingdom) trong ngày lễ mang tên “Guy Fawkes Day” mùng 5, tháng 11.  Pháo-Bông còn được bắn lên mừng lễ Độc-Lập của Pháp “Bastille Day” vào ngày 14, tháng 7 (Dương-Lịch) hằng năm.  Hiện nay trong ngày đầu năm Tết Âm-Lịch của người Trung-Hoa và Việt-Nam tại các thành-phố lớn luôn có bắn Pháo-Bông.

Năm hết, Tết Tây 2012 lại đến, rồi người Việt chúng ta từ trong và ngoài nước đều hân-hoan đón mừng Xuân Nhâm-Thìn.  Xin gửi lời “Chúc Mừng Năm Mới” đến tất cả mọi nhà.  Cầu mong Chúa Xuân mang an-bình và hạnh-phúc khắp nhân-gian.









Giáng-Sinh và Tình-Thương.
                                                                                                             
                                                               Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.
.

Đêm 24, tháng 12 năm nay sẽ là sinh-nhật thứ 2011 của Đức Giê-Su Kitô.  Ngài được Đức Bà Maria hạ-sinh vào năm thứ nhất Dương-lịch (A.D: thời-đại của Thiên-Chúa). Cả thế-giới lấy ngày này làm mốc thời gian tính theo lịch Tây-phương. 

Hai chữ Christmas theo tiếng La-Tinh phát-âm là  “Christ-tê-mê-sê” mang nghĩa là Thánh-Lễ  của Thiên-Chúa “Mass of Christ”.  Người Việt-Nam ta thường gọi là:  “Ngày Lễ Mừng Chúa Giáng-Sinh”; dần già theo thời-gian được nói tắt thành: “Giáng-Sinh”.

Thực ra lịch-sử mừng Lễ “Chirstmas” đã có từ hơn 4000 năm xưa, trước khi Chúa Giê-Su sinh ra.  Mùa Lễ này kéo dài trong vòng 12 ngày.  Ở Bắc-Âu, dưới thời Đế-quốc La-Mã, vì ngày ngắn đêm dài nên dân chúng đã lấy ngày 25, tháng 12 Dương-lịch hằng năm để mừng một buổi Lễ gọi là: “Ngày Của Mặt Trời Bất Bại”.  Trong ngày này mọi người dân La-Mã ăn chơi trác táng gây ra nhiều tội lỗi đưa đến những hậu-quả vô cùng đáng tiếc.  Sau này, Giáo-Hội Công-Giáo hoàn-vũ thấy thế nên đã biến cải thành ngày “Con Trời Bất Khả Bại”.  Lịch-sử cho rằng từ năm 98 Dương-lịch người ta mới bắt đầu ăn mừng Lễ Giáng-Sinh.  Mãi đến năm 350 Dương-lịch, Giám-Mục La-Mã là Julius đệ I mới chính thức công-nhận ngày 25, tháng 12 Dương-lịch hằng năm là ngày sinh-nhật Chúa Giê-Su.
     
Trong đêm Giáng-Sinh, hình ảnh Ông Già Noel cũng không thể thiếu được.  Đây chính là Thánh Nicholas;  Giám-mục thế-kỷ thứ IV.  “Santa Claus” là chữ viết tắt của “Saint Nicholas”



Các nước Bắc Âu (Denmark , Norway và Sweden) gọi Thánh Nicholas là Thánh Nicholai. Ông già Noel là Julemand (Denmark) , Julenissen (Norway) và Jultomten (Sweden). Người nước Hà Lan , hay Hòa Lan  ở Âu châu ( Netherland & Holland) gọi Thánh Nicholas bằng tiếng Hà Lan (Dutch) là Nicholas Sinterklaas  . Khi người Dutch-di-dân mang truyền thống ông Thánh già  Sinterklaas đến Mỹ thì trở thành tên: Santa Claus.  Người Việt-Nam ta gọi là Ông Già Noel.

Theo sưu-tầm và biên khảo trong cuốn sách “Điển Ngữ Các Thánh” của Cố Linh-Mục Hồng-Phúc (Dòng Chúa Cứu-Thế):  Thánh Nicholas là Giám-Mục Myer ở Tiểu- Á vào thế-kỷ thứ IV, có thể Người đã tham-dự vào công-đồng “Nicê” năm 325 chống lại lạc thuyết “Arius” và bị giam cầm trong cuộc bắt bớ dưới thời vua “Diocletien”.  Truyện thần-kỳ cho rằng Thánh Nicholas đã làm cho ba em nhỏ bị ám sát sống lại sau khi ông chủ quán giết và cho vào thùng muối thịt và chuyện Người bỏ ba túi vàng vào những chiếc vớ phơi treo trên lò sưởi của nhà ông hàng xóm nghèo hèn, vì ông muốn gả chồng cho con nhưng không có của hồi môn nên được Santa Claus giúp.  Tục lệ treo vớ trên lò sưởi để nhận quà Noel cũng bắt nguồn từ đây.  Lễ nhớ của Thánh Nicholas là ngày 6, tháng 12 Dương-lịch.  Người xưa cũng kể cho các trẻ nhỏ rằng Santa Claus trong đêm Giáng-Sinh thường chui vào ống khói để phát quà.
                                         
Riêng truyện thần-thoại về chú Nai Mũi Đỏ tên Rudolph và một đàn nai kéo xe cho Ông Già Noel bay trên những chặng đường mây dài từ vùng Bắc-cực (Northpole) đi khắp nơi phát quà cho trẻ nhỏ được bắt nguồn từ một bài thơ mang tên: “The Night Before Christmas” (Đêm Trước Giáng-Sinh) viết bởi Clement Clarke Moore, năm 1882.  Như một món quà của thi-sĩ này tặng cho trẻ con trong mùa Giáng-Sinh năm ấy.

Về việc gửi thiệp mừng Giáng-Sinh cho nhau được bắt đầu trong thời kỳ hưng-thịnh của Anh-quốc.  Tấm thiệp đầu tiên được một họa-sĩ người British (Anh) tên John Horsely thiết-kế. Nói về một gia-đình có: con trẻ, cha mẹ và ông bà đang nâng ly mừng Lễ Giáng-Sinh.  Bên cạnh đó là cảnh phân phát thức ăn, quần áo cho người nghèo đói.  Phía dưới có hàng chữ:  “A Merry Christmas and A Happy New Year To You”.

    
Tại Hoa-Kỳ, người ta ước tính hằng năm có hơn 1.9 tỷ (1.9 billion) tấm thiệp của gia-đình, bạn hữu gửi cho nhau.  Số thiệp này hơn cả tổng số thiệp người ta gửi tặng nhau trong mùa Lễ Tình Yêu (Valentine’s Day).  Trong khoảng thời-gian từ Lễ Tạ-Ơn (Thanksgiving) đến Lễ Giáng-Sinh, ngày 19 tháng 12 là ngày mà các Bưu-Điện trên toàn quốc bận rộn nhất với việc chuyển thiệp và quà Giáng-Sinh cho dân chúng.

Mỗi năm có khoảng 30 triệu cây Thông tươi (Christmas tree) được tiêu-thụ trên toàn quốc Hoa-Kỳ.  Tiểu-bang Oregon đứng đầu về nơi trồng và sản xuất Cây Giáng-Sinh, hằng năm với lợi nhuận thu được khoảng 143 triệu Mỹ-Kim.  Thời-gian trồng một Cây Giáng-Sinh cao được 6 ft. ( 180cm) phải mất 7 năm.  Cây có độ cao trung bình mất 4 năm, còn cây lâu đời nhất là 15 năm trồng.

Trong khi đó nước Tàu đứng đầu về sản-xuất cây thông giả trên toàn thế-giới.  Theo tài-liệu của Bộ Thương-Mại Hoa-Kỳ “US Commerce Department” có hơn 80% cây thông giả để trưng bày trong mùa Giáng-Sinh ở nước Mỹ xuất xứ từ Trung-Quốc.

Phong tục tặng quà trong mùa Giáng-Sinh khởi nguồn từ câu chuyện trong Kinh-Thánh nói vể ba nhà Thông Thái (Ba Vua) tìm đến máng cỏ hang lừa, (nơi Chúa Giê-Su sanh ra) để tặng châu báu, nhũ-hương và mộc-dược mừng sinh-nhật Chúa.

Thống-kê cho biết mùa Giáng-Sinh 2011 năm nay.  Vì tình-hình kinh-tế suy thoái, người Mỹ sẽ gửi tặng quà cho nhau ít hơn năm ngoái.

Nói đến ý nghĩa của mùa Lễ Giáng-Sinh chắc hẳn ai trong chúng ta cũng liên tưởng đến hình ảnh một gia-đình có ông Bố dìu người Mẹ bụng mang dạ chửa, không cửa không nhà, lâm bồn hạ sinh hài nhi trong một đêm đông băng giá nơi máng cỏ hang lừa.  Cảnh cơ hàn của những người vô gia cư không những đã có từ 2011 năm trước mà vẫn còn nhan nhản ngay tại trong nước Việt-Nam; Và chính ngay tại Hiệp-Chủng-Quốc-Hoa-Kỳ, một cường-quốc trên toàn thế-giới, giữa lòng thành-phố mang tên “Thiên-Thần” (Los Angeles) là đầy dẫy những kẻ vô-gia-cư chui rúc dưới các hầm cầu, ngõ hẹp tối tăm.  Có người bị chết vì quá lạnh, chết vì những thanh-niên Mỹ vô ý thức khinh khi đánh đập, châm lửa đốt họ vô cùng tàn nhẫn, dã man.  Chết vì sự vô tình của những trái tim con người băng giá. 

Mùa đông lại trở về California. Một Tiểu-Bang được coi là thời tiết ấm áp, điều hòa nhất nước Mỹ.  (Tuy cũng có những đêm dài lạnh dưới không độ bách-phân “Celsius”.).  Những người Việt-Nam quen thuộc với miền nhiệt đới đã tìm đến đây định cư sau biến cố 1975.  Họ chăm chỉ làm ăn, buôn bán, từ hai bàn tay trắng.  Biến những cánh đồng dâu thuộc thành phố Westminster của Tiểu-Bang này thành khu Bolsa Mini Mall, nơi tập trung đầu tiên của những thương-hiệu do người Việt làm chủ. Cho đến ngày hôm nay, qua hơn ba thập-niên.  Cùng với thế hệ con cháu sinh trưởng ở Mỹ, Cộng Đồng người Việt đã thực sự khôn lớn, trưởng thành.  Nhờ công khó của Cha-Mẹ.  Các em đã và đang là những Nghị-Viên, Dân Cử, những Bác-Sĩ, Kỹ-Sư, Luật-Sư, Thương-Gia… Biến khu “Little Saigon” (Saigon Nhỏ) thành một vùng rộng lớn, bao gồm nhiều thành-phố khác như: Garden Grove, Santa Ana, Fountain Valley, Anaheim…trở nên trù phú với những khu thương mại, những văn-phòng mang bảng hiệu Việt-Nam. 

Bên cạnh những thành công, theo luật bù trừ của đời sống, phải có những khiếm-khuyết, dị-tật. Nhưng tỷ lệ này may mắn là rất nhỏ, (chưa tới một phần trăm).  Chúng tôi muốn nói đến những người Việt-Nam Vô-Gia-Cư (Homeless). Vì bị thân-nhân ruồng bỏ, vì đam mê bài bạc, ghiền rượu, ma-túy...  Vì thất chí và vì rất nhiều lý do tâm lý khác, có khi vì thiếu niềm tin trong cuộc sống.  Họ trở thành không cửa, không nhà, có người mất cả trí khôn, lang thang trên những hè phố, họ bị xua đuổi, ruồng rẫy, khinh bỉ.  Họ bị coi là những kẻ lười biếng, vô dụng.

Dưới mắt chúng tôi, những người Vô-Gia-Cư là những người đáng thương, cần được quan tâm hơn bao giờ hết, với quan niệm rằng: chúng tôi đã có lần Vô-Gia-Cư và Vô-Tổ-Quốc (Homeless and Countryless) sau những chuyến vượt-biên, vượt biển để trở thành kẻ ly-hương nơi đất lạ xứ người.

Sau những giờ làm việc, chúng tôi thường lái xe đến những vùng có người Homeless, bất kể là Mỹ trắng, Mỹ đen, người Mễ hay Việt-Nam, để tặng họ áo ấm, bánh mì, trái cây và nước uống. 

Như bao mùa Giáng-Sinh trước, đúng đêm “Christmas Eve.” (Vọng Giáng-Sinh) năm nay chúng tôi lại tổ chức cho họ tiệc sinh-nhật mừng Chúa ra đời.  Địa điểm:  Trại Lính Quốc Gia Hoa-Kỳ  (Winter Shelter by the City of Pomona Homeless Services Depart.)  Bằng những phẩm vật cá-nhân, không quyên góp của ai và bằng tình-thương chân-tình từ đáy con tim đến những kẻ lạnh lẽo đêm đông không nhà, chúng tôi muốn gửi đến họ lòng chia xẻ giữa con Người với con Người.

 
Tiệc Mừng Chúa Giáng-Sinh tổ chức hằng năm cho Homeless vào đúng đêm Vọng Giáng-Sinh (X-Mas Eve.)

Bên cạnh đó, hơn 11 năm qua không ngừng nghỉ, ngoài mỗi cuối tuần thường xuyên, dù Trời mưa hay gió bão.  Nhóm thiện-nguyện Chân-Quê đã và đang kiên-trì mang sinh-hoạt âm-nhạc  (Christmas-Carol) đến các bệnh-nhân Việt, Mỹ & Mễ tại các trung-Tâm điều-dưỡng (Nursing-Home) vùng quận Cam, California.  Như một món ăn tinh-thần không thể thiếu, nhất là đối với các bậc trưởng-thượng Việt-Nam, từ các Cựu-Quân-Nhân Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đến các Cựu Giáo-Sư, Thẩm-Phán, Luật-Sư, Bác-Sĩ, Kỹ-Sư, Nhạc-Sĩ, Ca-Sĩ, Nhà Văn, Nhà Báo… đang điều-trị tại đây.  Tất cả đều đón nhận tình-thương san xẻ của nhóm Thiện-Nguyện “Chân-Quê” như những đứa con, anh, chị, em ruột thịt trong một gia-đình.


 
Nhóm thiện-nguyện Chân-Quê mang âm-nhạc mừng Chúa Giáng-Sinh
đến các Nursing-Home.

Ước mong rằng những trái-tim con người trên toàn thế-giới biết rung động, biết “Thấu Tình Lữ-Thứ Đêm Đông Không Nhà…”  Để chia xẻ, san lửa ấm tình người cho nhau trong mùa đông buốt giá này và cùng nhau chúc tụng:
 
“ Vinh Danh Thiên-Chúa Trên Trời.
Bình-An Dưới Thế Cho Người Thiện-Tâm”.

                                             Chân-Quê: Tâm-Thiện Diamond Bích-Ngọc.
************** 
 

LỄ TẠ-ƠN.

Chân Quê: Diamond Bích-Ngọc.

Hằng năm tại Hoa-Kỳ cứ vào mỗi thứ năm, tuần lễ cuối cùng của tháng 11; chúng ta có ngày Lễ gọi là Thanksgiving  (Lễ Tạ-Ơn).  Tại sao lại có ngày Lễ đáng yêu này?

Theo sử liệu nước Mỹ thì truyền-thống của ngày Lễ Thanksgiving là do những người Anh quốc thuộc giáo-phái Tin-Lành Thanh-Giáo di dân đến Tân-Thế-Giới từ năm 1620 để tránh nạn đàn áp tôn-giáo.  Họ bỏ sang Hòa-Lan rồi sau đó đến châu Mỹ trên con tàu mang tên “May Flower”.  Những người di dân đầu tiên ấy là người “Pilgrims”, họ đến được vùng “Plymouth Rock” vào ngày 11 tháng 12, năm 1620.  Tại đây họ phải trải qua một mùa đông băng giá khắc nghiệt, đã có đến 46 người trong số 102 người di-dân trên con tàu “May flower” bị thiệt mạng.

Nhưng kể từ năm 1621, người “Pilgrims” may mắn dược dân da đỏ bản xứ tốt bụng giúp đỡ cung cấp lương thực; đồng thời chỉ dẫn cách thức canh tác, trồng trọt hầu mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn tại miền đất hứa.  Từ đó những người di dân đầu tiên đã thâu hoạch được mùa màng canh tác khả quan.  

Cũng trong thời gian này có đến 91 người da đỏ bản xứ châu Mỹ với 56 người “Pilgrims” sống sót cùng làm một buổi Lễ an-táng cho những người đã khuất.  Sau đó họ làm một buổi Lễ vô cùng long trọng để Tạ-Ơn Thượng-Đế.

Thức ăn trong buổi Lễ Tạ-Ơn đầu tiên này (The First Thanksgiving) rất khiêm tốn vì đã từ lâu họ không còn bột mì nên không có bánh mì hay bất cứ các loại bánh nào khác; họ phải dùng bột Ngô và Bí đỏ để làm bánh (Pumpkin Pie).  Lúc bấy giờ họ cũng không có Sữa, Bơ hoặc Khoai-tây.  Bữa tiệc Tạ-Ơn đầu tiên gồm có các loại Cá, thịt Nai, Nghêu, Tôm-hùm, Trái-cây khô, các loại Dâu tươi (Berries).

Hình Minh-Họa: Bữa Tiệc Tạ-Ơn Đầu Tiên Năm 1621 Tại Hoa-Kỳ.

Mãi cho đến năm 1676, Hội-Đồng-Dân-Cử của Thị-Trấn Charlestown Massachusetts đã quyết-định chọn ngày 29 tháng 6 làm ngày Lễ Tạ-Ơn.  Một trăm năm sau, vào khoảng tháng 10 năm 1777.  Cả 13 thuộc-địa của Hoa-Kỳ cùng nhau cử hành ngày Lễ Tạ-Ơn lần đầu.  Tổng-Thống George Washington đã tuyên xưng ngày Lễ Thanksgiving vào năm 1789.
 
Chân-Dung Vị Tổng-Thống Đầu-Tiên Hoa-Kỳ: George Washington.(1789)

Sau đó có một Ký-gỉả báo chí tên Sarah Josepha Hale đã dồn nhiều nỗ lực để viết về các tài-liệu đặc biệt cho ngày Lễ Tạ-Ơn trong quyển “Boston Ladies’s Magazine” và quyển “Godey’s Lady’s Book”.  Cũng nhờ vào các cuộc vận động không ngừng của báo-chí thời bấy giờ, bằng cách gửi thư-từ cùng các văn-bản đệ trình lên Thống-Đốc cùng Tổng-Thống đương thời nên 40 năm sau  (tính từ thời kỳ vận động của ký-giả Sarah Josepha Hale) vào năm 1863 Tổng-Thống Lincoln mới chọn ngày thứ Năm của tuần lễ cuối tháng 11 làm ngày Lễ Tạ-Ơn (Thanksgiving) cho toàn quốc.

Chân-Dung Vị Tổng-Thống Thứ 16 Hoa-Kỳ: Abraham Lincoln (11, tháng 8, năm 1863)

Thời gian sau đó ngày Thanksgiving cũng đã thay đổi đôi lần bởi ông Franklin Roosevelt nhưng cuối cùng vào năm 1941, Quốc-Hội-Liên-Bang Hoa-Kỳ đã ra luật chọn ngày thứ Năm thuộc tuần lễ thứ Tư của tháng 11 Dương-Lịch hằng năm làm ngày nghỉ Lễ Thanksgiving (Holiday) chính thức cho đến bây giờ.

Ai trong chúng ta cũng có thể nhận biết được con người dù sinh ra ở bất cứ nơi nào trên trái đất, họ cũng đều có Tổ, có Tông.  Giống như nước có Nguồn, cây có Cội.  Truyền thống cao đẹp của người Việt-Nam từ ngàn xưa đến nay đều tin có một Đấng tối cao trên hết đó là Trời.  Đạo thờ Trời của người Việt-Nam cũng nhằm giúp con người bé nhỏ chúng ta có dịp Tạ-Ơn Đấng đã tạo thành vũ-trụ vô biên, Đấng đã tạo nên loài người.  Con đường thờ phượng ấy đã dẫn lối cho người Việt-Nam biết Tạ-Ơn Tổ-Tiên, Ông-Bà, nhất là hai Đấng Phụ-Mẫu sinh thành: Mẹ và Cha yêu dấu.  Lòng Tạ-Ơn của người Việt-Nam không chỉ thể hiện trong những dịp Lễ mà là từng giây, từng phút, từng giờ trong mỗi một ngày của cuộc sống và ngay cả lúc Tổ-Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh-Chị, Họ-Hàng, Thân-Tộc khi đã khuất núi thì những người còn sống vẫn bắt buộc phải làm Lễ Giỗ hằng năm, như một truyền thống cao quý bất diệt của Phong-Tục Việt-Nam.

Một nghịch-lý không thể phủ-nhận là ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống đời thường, ngoài những hạnh-phúc niềm vui hay tiếng cười giữa quan-hệ con Người với Người:  vẫn thấp thoáng những giọt nước mắt khổ đau hay muộn phiền khắc khoải, lo âu, cùng vô vàn lòng trắc ẩn hay tệ bạc hơn là sự cay-nghiệt của dòng đời mà chúng ta chắc hẳn ai cũng đã có lần phải trải qua.  

Với chúng tôi, mỗi một sớm mai thức giấc nhìn thấy mặt Trời là một ngày được sấp mình Tạ-Ơn Thượng-Đế, Tạ-Ơn Vạn-Vật, Vũ-Trụ, nhất là được Tạ-Ơn con Người.  Từ Cụ già đến Bé thơ, tình thân đến những người chúng tôi chưa bao giờ quen biết như trong các “Nursing-Home” ở quận Cam, nơi  mà “Chân Quê” vẫn đến sinh-hoạt thiện-nguyện bằng hình thức Âm-Nhạc mỗi cuối tuần suốt hơn mười năm qua.  
 
Nhóm Chân-Quê mang không-khí ThanksGiving đến Nursing-Home trong các trang-phục đặc-biệt của người Da Đỏ (Native American) do chính tay Diamond Bích-Ngọc thiết-kế & may cắt.

(Các Ca-Sĩ: Diễm-Phương, Hoàng-Anh, Bác-Sĩ Đệ)       

Cũng như đối với những người bất hạnh neo đơn, bệnh hoạn, tàn tật, cùi hủi, ăn mày, những Thương-Phế-Binh Cựu Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa… tận cùng nhất bên quê nhà mà chúng tôi được nhiều cơ may thường xuyên trở về chia xẻ Tình-Thương.  


Hai Trong Số Hơn 300 gia-đình Thương-Phế-Binh Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa tại Việt-Nam
được Diamond Bích-Ngọc giúp đỡ.


Rồi phải kể đến những kẻ Trọc-Phú sang giàu, quyền hành trong xã-hội.  Chúng tôi đều Tạ-Ơn vì chính Họ đã mang cho chúng tôi đầy đủ những: Hỷ, Nộ, Ái, Ố  (niềm Vui lẫn nỗi Đau, sự Chán-nản hay Tin-yêu, tiếng Cười và nước Mắt.  Họ cũng là những Người mang cho chúng tôi Giận-hờn hoặc dậy cho chúng tôi lòng Tha-Thứ, Cảm-Thông…)

Tất cả, tất cả… Chúng tôi đều trải lòng mình ra để Tạ-Ơn hai chữ gọi là: “Con Người”.  Vì từ “Con Người”  họ đã dậy cho chúng tôi biết “Cách Sống”  và biết “Sống” rất Tình Người.


Diamond Bích-Ngọc thường-xuyên giúp gạo, tiền và thực-phẩm tại trại-cùi “Bình-Minh”. Việt-Nam.


Có một niềm Tạ-Ơn mà chúng tôi luôn chôn dấu tận đáy lòng, đó là Tạ-Ơn Người chúng tôi yêu.  Người đã hy-sinh mạng sống họ cho chúng tôi.  Người đã chết cho chúng tôi được sống.  Những người Chiến-Sĩ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa và các Chiến-Sĩ Đồng-Minh ngoại-quốc trong chiến cuộc năm xưa.  Tạ-Ơn Anh vô vàn: NGƯỜI CHIẾN-SĨ VÔ-DANH.

 
Tượng “Thương-Tiếc” Chiến-Sĩ Vô Danh Quân-Lực VNCH.

Hình Bia-Mộ Chiến-Sĩ Vô-Danh do chính tay Diamond Bích-Ngọc chụp trong
Nghĩa-Trang-Quân-Đội Biên-Hòa.

Đài Dũng-Sĩ Trong Nghĩa-Trang Quân- Đội-Biên-Hòa.      


Diamond Bích-Ngọc thắp nhang Tạ-Ơn trên mộ phần không bia
của 1 Chiến-Sĩ Vô-Danh trong Nghĩa-Trang Quân-Đội-Biên-Hòa.  
 *************** 

TÀI-LIỆU THÁNG 11, 2011.


TƯỞNG NHỚ THI-SĨ HÀN-MẶC-TỬ

                                                                           

Miền Trung nước Việt-Nam ta có một vùng đất bắt đầu sôi động từ thế-kỷ thứ mười (X), khi người Chiêm đặt kinh-đô Đồ-Bàn (Vijaya) ở đây.  Vùng biển lúc ấy có tên là vùng Thị-Nại (Cri Vini).  Người Việt và người Chân-Lạp (Khmer) đã nhiều lần đem binh thuyền đến đánh.  Cả đạo quân của Hốt-Tất-Liệt cũng từng đến đây trong thế-kỷ thứ mười ba (XIII) và đã bị người Chàm dùng chiến-thuật du-kích đẩy lui.

Năm 1471, vua Lê-Thánh-Tông thân-chinh chiếm thành Đồ-Bàn, nước Chiêm-Thành kể từ đó suy yếu dần.

Đến cuối thế-kỷ thứ mười tám (XVIII), có một triều-đại mới phát xuất từ làng Tây-Sơn, cách Quy-Nhơn 20Km về phía tây.  Triều Tây-Sơn mở rộng thành Đồ-Bàn, đổi tên là Hoàng-Đế thành.  Từ năm 1788 đến 1802, nơi đây từng là một chiến-trường quyết liệt giữa quân Tây-Sơn và quân của Nguyễn-Ánh.  Cuối cùng quân nhà Nguyễn chiến thắng, đặt tên lại là Bình-Định.

Bình-Định được xem như vùng đất thơ vì cảnh sắc đa dạng.  Mang nỗi u-huyền, hoài-cổ của những tháp Chàm điêu-tàn, có bãi biển nước xanh trong vắt, sóng vỗ hư-vô, khiến những thi-nhân như Chế-Lan-Viên, Quách-Tuấn, Xuân-Diệu… Vì tức-cảnh-sinh-tình đã dệt nên biết bao những vần thơ tuyệt-tác.

Nơi đây còn nổi danh là vùng đất võ:

“Ai về Bình-Định mà coi.
Con gái Bình-Định múa roi đi quyền”.

Truyền-thống võ thuật Bình-Định bắt nguồn từ rất xưa.  Là một hệ-thống sử dụng đủ 18 môn võ-khí lẫn cả binh-pháp. Nay vẫn còn lưu-truyền những bài quyền, bài kiếm của những danh-tướng thời Tây-Sơn như Nguyễn-Lữ, Bùi-Thị-Xuân.

Cách trung-tâm thành-phố Bình-Định chừng 5Km là Ghềnh Ráng và một vùng biển mang tên Bãi Đá-Trứng (vì toàn những viên cuội tròn như trứng).  Nằm rất kín đáo, đặc biệt có mạch nước ngọt trong một cái giếng.  Giếng này nằm sát bờ biển không bao giờ cạn.  Nơi đây ngày xưa đã dành riêng cho Hoàng-Hậu Nam-Phương nghỉ mát mỗi khi bà ngự về Quy-Nhơn.  Từ Bãi-Đá-Trứng nhìn lên cao, có lầu ông Hoàng Bảo-Đại.  Được xây dựng từ năm 1911 bởi một nhà quý-tộc người Pháp thuộc giòng dõi “D’. Léon” Hàm-Công-Tước.

Như chuyện huyền-thoại khi vùng biển ngày ấy có những dấu chân của một chàng thi-sĩ in đầy trên cát, rồi bị từng đợt sóng xô bờ cuốn đi tít tắp mù-khơi.  Đó là Hàn-Mặc-Tử, người đã:

“Ta lang-thang tìm đến chốn lầu hoang,
Lầu ông Hoàng người thiên-hạ đồn vang.
Nơi đã khóc, đã yêu thương da-diết…”



Bãi-Đá-Trứng còn có một nơi gọi là “Thung-Lũng Tình-Thương”, với một trại cùi mang tên Qui-Hòa, dưới 500 mẫu đất.  Do linh-mục Paul Mauer, người Pháp sáng lập vào năm 1929. 

Buổi sáng ngày 20, tháng 9, năm 1940 dương-lịch.  Nhà thơ Hàn-Mặc-Tử, tức Pierre Phan-Xi-Cô Nguyễn-Trọng-Trí, đã bước vào trại cùi Qui-Hòa.  Trong 52 ngày ở đây, Hàn-Mặc-Tử chỉ biết đi nhà thờ, đọc kinh, lần chuỗi Mân-Côi và cầu-nguyện.  Lúc bấy giờ, chàng từng thố-lộ niềm mơ ước là trước khi chết được đến kính viếng và đi kiệu Đức Mẹ La-Vang ở Quảng-Trị.  Nhưng người con chiên ngoan đạo ấy đã vĩnh viễn nằm lại thành-phố biển Qui-Nhơn.  Từ giã cõi hồng-trần lúc mới 28 tuổi xuân xanh.


(Mộ của Hàn-Mặc-Tử ở Ghềnh-Ráng)


Theo “Bách-Khoa-Toàn-Thư” (Wikipedia) đã nói về tiểu-sử của chàng như sau:

Hàn-Mặc-Tử tên thật là Nguyễn-Trọng-Trí, sinh ở làng Lệ-Mỹ, Đồng-Hới, Quảng-Bình; trú ngụ ở Quy-Nhơn, tỉnh Bình-Định từ thưở nhỏ. Hàn Mặc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan-Bội-Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.
Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người..
Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong cùi - một căn bệnh nan y thời đó, Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này,  khi mới bước sang tuổi 28..
Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm có:


•    Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật)
•    Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời)
•    Thơ Điên (hay Đau Thương, thơ gồm ba tập: 1. Hương thơm; 2. Mật đắng; 3. Máu cuồng và hồn điên)
•    Xuân như ý
•    Thượng Thanh Khí (thơ)
•    Cẩm Châu Duyên
•    Duyên kỳ ngộ (kịch thơ)
•    Quần tiên hội (kịch thơ, viết dở dang)
•    Chơi Giữa Mùa Trăng( tập thơ-văn xuôi)


Ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế...


Sau này Quách-Tấn là người giữ bản quyền thơ của Hàn-Mặc-Tử; vì vậy các tác-giả khi xuất bản những tác-phẩm (chưa in thành sách) về Hàn-Mặc-Tử, Quách-Tấn chỉ cho phép trích năm bài thơ trở xuống của Hàn-Mặc-Tử mà thôi.”

Riêng về Nữ sĩ Mộng Cầm (sinh ngày 17, tháng 7, năm 1917), người tình trong thơ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, đã qua đời lúc 21 giờ 30 phút ngày 23, tháng 7, năm 2007 nhằm ngày 10, tháng 6 năm Đinh Hợi, tại nhà riêng trên đường Trần Hưng Đạo – Phan Thiết, sau một thời gian bạo bệnh, thọ 91 tuổi. Trước đó, bà Mộng Cầm điều trị ở Bệnh viện Đa khoa An Phước – Phan Thiết và từ ngày 25, tháng 6, năm 2007 thì được chuyển về nhà riêng.

Ngày 11, tháng 11, năm nay: 2011 là kỷ-niệm lễ giỗ năm thứ 71 của Hàn-Mặc-Tử.  Chúng tôi xin mượn những giòng chữ này thay cho lời tạ-ơn về những thi-phẩm bất-hủ trong kho tàng văn-chương Việt-Nam chàng đóng góp; cũng là để nói về cuộc đời người thi-sĩ tài-hoa bạc mệnh; đã cho chính chúng tôi niềm rung động sâu xa, cảm nhận được những đau khổ, uất-ức, hờn giận, sự thèm thuồng, mến tiếc với cuộc đời trong thân-phận bi-đát của một người mang bệnh phong-cùi.  Chàng đã vượt ra ngoài những gì thường tình của thế-nhân. 

Hàn-Mặc-Tử cũng đầy nghị-lực nhờ niềm tin tuyệt đối vào Đấng tối-cao; để từ bỏ thực-tại, xa lánh u-uất; hầu vươn đến những nguồn thơ siêu-thực, dầy công hun đúc trong lời nguyện cầu dâng lên Thượng-Đế, để từ đó tâm-hồn Hàn-Mặc-Tử vẫn lạc quan và tràn ngập niềm vui như lời trần-tình trong bài thơ “Đêm Xuân Cầu Nguyện” như sau:

“… Trời hôm nay bình-an như nguyệt bạch,
Đường trăng xa ánh sáng tuyệt-vời bay…
Đây là hương quý trọng thắm trong mây,
Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm;
Câu tán tạ, không khen long cả phiếm,
Bút xuân thu mùa nhạc đến vừa khi
Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài-nghi;
Cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc,
Và đầu hôm một vì sao liền mọc.
Ở phương Nam mầu nhiệm biết ngần mô!
Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan-hảo,
Ngửa trong cao, cầu nguyện trắng không-gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân,
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng-đế.
Đã no nê, đã bưa rồi thế-hệ
Của phường trai mê-mẩn khí thanh-cao;
Phượng-hoàng bay trong một tối trăng sao
Mà ánh sáng không còn khiêm-nhượng nữa;
Đương cầu xin, ọc thơ ra dường sữa,
Ta ngất đi trong khoái lạc của hồn đau…
Trên chín tầng điều động cả trân-châu,
Đương sống lại muôn ngàn hoa phẫm tiết;
Nhịp song đôi, này đây cung cầm nguyệt.
Ướp lời thơ thành phước lộc đường tu
Tôi van lơn thầm-nguyện Chúa Giê-Su
Ban ơn xuống cho mùa Xuân hôn-phối;
Xin tha-thứ những câu thơ tội-lỗi
Của bàn tay thi-sĩ kẻ lên trăng;
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng”

******************************


 

TÀI-LIỆU THÁNG 10, 2011.
THÁNG MƯỜI MÙA THU.

 

                                                

Tôi đã tự hỏi nhiều lần: tại-sao có ngày tháng năm trong thời-gian của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông?  Đã hỏi thì phải đi tìm câu trả-lời.  Dựa theo những tài-liệu nghiên-cứu, tôi được biết:

Mùa: là sự phân chia của năm trên trái đất, dựa vào thay đổi theo chu kỳ của thời-tiết.  Trong các khu vực ôn đới và vùng cực đới nói chung có bốn mùa được công nhận: mùa xuân, hạ, thu và đông.

Trong một số khu vực nhiệt-đới và cận-nhiệt-đới, người ta thường dựa trên lượng mưa để chia thành hai mùa trong năm là mùa mưa và mùa khô. Như ở miền nam Việt-nam chúng ta vậy!  Ở một số vùng nhiệt-đới khác thì lại có sự phân chia thành ba mùa: mùa nóng, mùa mưa và mùa lạnh. Người Ai Cập cổ đại còn chia một năm thành ba mùa, “Aklet” là mùa ngập lụt, mùa cày cấy & gieo hạt, và “Stem” là mùa thu hoạch mùa màng.

Một số dân tộc bản xứ ở Lãnh thổ Bắc của Úc tính thành sáu mùa, trong khi người Sami (thổ dân) của vùng “Scandinavia” thừa nhận có không ít hơn 8 mùa.  Ở khu vực Melbourne miền đông nam nước Úc, tiến sĩ Beth Goth từ Monash School of Biological sciences (Trường Sinh học Monash) cùng một số đồng-nghiệp của ông đã biên soạn những tài-liệu cho mô-hình 6 mùa của vùng này.

Tại Mỹ, bốn mùa được coi là bắt đầu tại các điểm phân (xuân phân, thu phân) và điểm chí (hạ chí, đông chí); các mùa như thế đôi khi gọi là "mùa thiên văn". Theo sự ước lượng này thì mùa hè bắt đầu từ thời điểm hạ chí, mùa đông bắt đầu từ thời điểm đông chí, mùa xuân bắt đầu từ thời điểm xuân phân và mùa thu bắt đầu ở thời điểm thu phân. Trong lịch của Mỹ, các ngày sau đây được coi là giữa các mùa:
•    Mùa đông (3 tháng 2)
•    Mùa xuân (5 tháng 5 hay 6 tháng 5)
•    Mùa hè (7 tháng 8)
•    Mùa thu (6 tháng 11)

Lịch của người Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam dựa trên cơ sở của âm- lịch, trong đó các điểm xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí được coi là thời điểm giữa các mùa. Loại lịch này rất gần với định nghĩa khí-tượng-học của các mùa.

Thu phân (tiếng Anh: Autumnal equinox) là điểm bắt đầu của mùa thu tại Bắc bán cầu, thời điểm mà Mặt Trời xuất hiện trên "thiên xích đạo" (Mặt Trời ở gần xích đạo nhất) và bắt đầu đi xuống hướng nam. Về mặt thời gian, thu phân bắt đầu vào khoảng 22 tháng 9 đến 24 tháng 9 và kết thúc vào khoảng ngày 8 hay 9 tháng 10 trong dương-lịch (Gregory) theo các múi giờ Đông Á, tức là khi tiết hàn lộ bắt đầu.  Theo thuật-ngữ thiên-văn-học phương Tây, đó là thời điểm có liên quan đến vị trí của hành tinh trên quỹ đạo quanh mặt Trời. Nó là lúc kinh độ mặt Trời bằng 180 độ.

Nếu dựa theo cách phân-chia ngày, giờ của “UTC” (Coordinated Universal Time) thì mùa Thu năm nay 2011 đã bắt đầu lúc 9giờ 04phút sáng ngày 23, tháng 9. Và năm tới mùa Thu sẽ bắt đầu lúc 14:49’ tức 2giờ 49phút chiều ngày 22, tháng 9 năm 2012.
Ngày: nếu tính theo lịch “Gregory” do Giáo hoàng Gregory XIII đưa ra vào năm 1582 thì năm chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận. Vì vậy theo lịch Julius thì một năm có 365,25 ngày. Nhưng độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày trong một năm, tức là khoảng 11 phút 14 giây.

Để bù vào sự khác biệt này thì cứ 400 năm ta sẽ bỏ bớt đi 3 ngày năm nhuận. Cho đến năm 1582, thì sự sai biệt đã lên đến 10 ngày. Giáo Hoàng Gregory XIII quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại. Sau ngày 4 tháng 10 năm 1582 là ngày 15 tháng 10. Và để tránh sai biệt, lịch lấy năm nhuận là năm có số thứ tự chia chẵn cho 4 (như năm 1964, 1980, 2004, ...) và các năm tận cùng bằng 00 phải chia chẵn cho 400 mới là năm nhuận (năm 2000 chia chẵn cho 4 và 400 nên là năm nhuận, những năm 1700 1800 và 1900 chia chẵn cho 4 nhưng không chia chẵn cho 400 nên không phải là năm nhuận, ...). Lịch đã sửa mang tên lịch Gregory và được áp dụng cho đến bây giờ. (*)

Mùa Thu trong năm lại đến, bắt đầu bằng những cơn mưa ướt sũng đường xá trong khu phố “Little Saigon” (thủ-đô của người Việt tỵ-nạn) cũng là lúc mà nước dâng cao tại các vùng đồng-bằng sông Cửu-Long nơi quê nhà làm thiệt bao nhân-mạng và thất thu mùa màng không sao kể xiết, rồi bão lụt miền trung triền miên xảy ra ngay từ thuở những ngày tôi còn bé ở Việt-Nam cho đến nay.  Không năm nào Trời vào thu là không bắt đầu giông bão cuồng lũ hoành-hành, khiến người dân nước tôi phải oằn mình trong lao đao, khốn khó.  Nhiều năm qua, tôi với các Dì-Phước thuộc Dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái” và tôi cũng tham-gia vào “Hội Hồng-Thập-Tự Quốc-Tế” (Red Cross) thường đi đến tận những vùng xa xôi, làng mạc cứu trợ.  Xoa dịu phần nào nỗi đau của người dân nghèo sau bao cuộc thiên-tai.

Tháng Mười Mùa Thu năm nay, 2011 - cũng là tháng kỷ-niệm tám năm lễ phong Chân-Phước, tức là phong Á-Thánh của Mẹ Terésa (Calcutta).  Trong khuôn-khổ hạn hẹp của bài viết này xin được kể về Mẹ Terésa; người mà tôi đã nguyện trọn đời theo gót chân Mẹ trên bước đường chia xẻ tình-thương đến tha-nhân.

Vị Quan-Thầy của Mẹ Terésa (Calcutta) chính là Thánh-Nữ Terésa thành Lisieux, hoặc đúng hơn là Sainte Thérèse de l'Enfant-Jésus et de la Sainte Face (Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu) sinh ngày 2 tháng 1, năm 1873.  Cả một đời Ngài chỉ làm những công việc bé mọn thấp kém nhất, như là quét lá, lau chùi, giặt giũ, dọn dẹp.  Song, đằng sau những việc nhỏ bé của con người thấp-hèn ấy lại ẩn-chứa một tình-yêu cao-cả.


Thánh-Nữ Terésa Hài-Đồng Giê-Su.
Không ai có thể ngờ, Thánh-Nữ Terésa Hài-Đồng Giê-Su lại bị ganh ghét, tỵ-hiềm bởi những người bạn nữ-tu ở cùng dòng.  Ngài còn bị đối-xử vô-cùng khắc-nghiệt dưới tổng-quyền của bà Mẹ Bề Trên dòng tu-kín “Camelot”, thế mà Ngài không bao giờ lung-lay niềm-tin vào Đấng Tối Cao; vẫn kiên-trì nguyện-cầu từng khắc, từng giây trong cuộc sống.  Trong hồi-ký của Ngài, có lúc quá khó-khăn, Thánh-Nữ Terésa Hài-Đồng Giê-Su đã phải thốt lên rằng: “Ôi! Những bước chân tu đầu đời của tôi dẫm phải nhiều gai nhọn hơn là hoa hồng!”  Ngài  viên-mãn ngày 30-9-1897.  28 năm sau, tức năm 1925, Ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Piô XI tôn phong lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1927, cũng chính Ðức Piô XI tôn vinh Thánh Nữ làm Quan Thày các Nhà Truyền Giáo và các Xứ Truyền Giáo.

Chúng tôi vừa trình-bày sơ qua về vị Quan-Thầy của Mẹ Terésa (Calcutta).  Bây giờ, xin được phép nói về cuộc đời của Mẹ.

Vào lúc 10giờ sáng (giờ Roma) Chúa-Nhật ngày 19, tháng 10, năm 2003.  Tại Vatican, Đức Cố-Giáo-Hoàng John-Paul II (đệ Nhị) đã thân-chinh làm lễ phong Chân-Phước tức là phong Á-Thánh cho Mẹ Terésa; cũng nhằm kỷ-niệm 25 năm lễ Đăng-Quang của cố Giáo-Hoàng Joan-Phao-Lô II thời bấy giờ.
 
Ngược dòng lịch-sử, ngày 26, tháng 8, năm 1910. Bé Agnes Gonxha Bojaxhil đã chào đời tại Üsküb, Ottoman Empire. Bây giờ là Skopje, thủ-đô của Macedonia.
 

Ngôi nhà kỷ-niệm của Mẹ Teresa ở Skopje, Macedonia.
18 năm sau, cô bé Agnes rời gia-đình để nhập nữ-tu-viện Loreto nước Ái-Nhĩ-Lan (Ireland).  Cũng tại đây, cô Agnes đã trở-thành thử-sinh ngày 12, tháng 10, năm 1928 được mang tên Thánh là Maria-Terésa.  Một năm sau, thử-sinh Agnes tới Calcutta của nước Ấn-Độ vào ngày 6, tháng 1.  Cho đến ngày 24, tháng 5, năm 1937 thì được khấn trọn đời. 

Mẹ Terésa chính-thức thành-lập “Hội Dòng Mới Thừa Sai Bác Ái” vào ngày 7, tháng 10 năm 1950.  Tháng hai, năm 1953 ngôi nhà số 54a Lower Circular, được mở rộng và trở thành Nhà Mẹ của Dòng “Thừa Sai Bác Ái”. Từ đó, Dì-Phước Maria Terésa được gọi là “Mẹ Terésa”.  Mẹ chọn bộ áo Sari trắng viền xanh với mong muốn trở nên người phụ nữ nghèo khó nhất tại Ấn Độ, và cũng nói lên khát vọng noi gương Đức Mẹ Maria Đồng Trinh.

Hội được phát triển mạnh mẽ đến ngày nay.  Đích thân Mẹ Terésa cùng các Dì-Phước và những giáo-dân đủ mọi tôn-giáo, mọi quốc-gia đã tận tình chăm sóc cho những người cùi hủi, tàn-tật, bệnh-hoạn, đói khổ.  Từ em bé đến người già, Mẹ Terésa đã lặn-lội đến từng hang cùng ngõ hẹp, những nơi cống rãnh hôi-hám, tối-tăm, bẩn thỉu nhất để mang họ về chăm-sóc trong tình yêu-thương.  Đã có hơn 70 ngàn xác chết trên đường phố Ấn-Độ được Mẹ mai-táng và đọc kinh nguyện-cầu cho linh-hồn của họ.
Từ một bé gái sơ-sinh mang tên Agnes, 93 năm sau được phong Chân-Phước (Á-Thánh).  Mẹ Teresa với dáng người rất nhỏ bé, Mẹ đã sống với những người thấp hèn, tận cùng nhất của xã-hội suốt gần 50 năm từ khi thành-lập “Hội Dòng Mới Thừa Sai Bác-Ái”, Mẹ Terésa đã là ánh-sáng soi rọi đến những hàng quý-tộc, những nhà lãnh-đạo các quốc-gia trên toàn thế-giới.  Từ Tổng-Thống Ấn-Độ của thập-niên 60 đến Tổng-Thống Hoa-Kỳ John F. Kenedy, rồi đến Tổng-Thống Ronald Reagan, Nữ-Hoàng Anh-Quốc Elizabeth, Công-Nương Diana cho đến cả Liên-Bang-Xô-Viết.

Năm 1962, Mẹ Terésa được trao giải Ramon Magsaysay về sự hiểu biết Quốc tế cho những hoạt động của Mẹ ở Đông và Nam Á.  Ban Quản trị nhìn nhận sự nhận thức sâu sắc và đầy thương cảm của Mẹ dành cho những người nghèo khó ở một xứ sở xa lạ.  Đến đầu thập niên 1970, Mẹ Terésa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới, phần lớn là do cuốn phim tài liệu “Something Beautiful for God” do Malcom Muggeridge sản xuất năm 1969, cũng như quyển sách cùng tên của ông xuất bản năm 1971. Khi thực hiện cuốn phim, có những đoạn phim phải quay trong điều-kiện ánh-sáng không tốt, nhất là tại Nhà dành cho người hấp-hối, đoàn làm phim nghĩ rằng sẽ không thể xử-dụng những thước phim này. Tuy nhiên, khi trở về từ Ấn-Độ, chúng lại có ánh sáng rất tốt. Muggeridge cho đó là phép lạ do “ánh sáng thần thượng” từ Mẹ Terésa. Những người khác trong đoàn làm phim thì nghĩ rằng đó là nhờ loại phim cực nhạy của Kodak. Về sau, Muggeridge đã phải chấp nhận đó là phép lạ.
 

 
Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan trao tặng cho Mẹ Teresa Huân-Chương Tự- Do năm 1985
Các chính phủ và những tổ chức dân sự cũng tìm đến tôn vinh Mẹ Terésa. Vương quốc Anh và Hoa Kỳ nhiều lần trao tặng Mẹ giải thưởng các loại, cao quý nhất là Order of Merit của Anh Quốc năm 1983, và công dân danh dự của Mỹ ngày 16 tháng 11 năm 1996. Quê hương Albania của Mẹ Terésa cũng dành cho Mẹ Huân-Chương-Vàng-Nhà Nước năm 1994.

Ngày 31, tháng 8, năm 2007 con tem có in hình Mẹ Teresa và Công-Nương Diana trong lần đầu tiên gặp gỡ vào tháng 2, năm 1992 tại tu-viện của Mẹ ở Rome; đã được Ascension Island, là một lãnh-thổ của Vương-Quốc-Anh ở  miền Nam giữa Đại Tây Dương (một căn cứ không-quân quan trọng trong cuộc xung đột Falklands) sản-xuất con tem này; nhằm kỷ-niệm lễ giỗ 10 năm của hai nữ nhân-vật mang tính biểu-tượng nhất của thế-kỷ thứ 20.
 
Tháng 12, năm 1979, Mẹ Terésa được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho “những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình.”  Mẹ từ chối bữa tiệc mừng truyền thống và yêu cầu gởi số tiền $192.000 USD cho người nghèo ở Ấn Độ, nói rằng những phần thưởng trên thế-gian chỉ có giá-trị khi nào chúng giúp-ích được cho những người thiếu-thốn trên thế-giới.
Khi nhận giải thưởng, Mẹ đặt câu hỏi rằng: “Chúng ta có thể làm gì để thăng-tiến nền hòa bình thế giới?”, và đưa ra câu trả lời, “Hãy về nhà và yêu chính gia-đình mình.” Bài đáp từ của Mẹ Terésa cũng dựa trên chủ đề này, “Khắp nơi trên thế-giới, không chỉ ở những nước nghèo, tôi thấy xóa nghèo ở phương Tây còn khó-khăn hơn. Khi tôi nhặt một người ngoài đường phố, đang đói khát, tôi cho người ấy một đĩa cơm, một miếng bánh, tôi cảm thấy hài lòng vì đã cứu đói cho người ấy. Nhưng khi một người bị gạt bỏ, cảm thấy mình sống thừa-thãi, không được yêu-thương, sống trong kinh-hãi, con người đang bị gạt ra bên lề xã hội – sự nghèo khổ ấy là khốn-khổ hơn, tôi thấy rất khó mà cứu giúp.”

Mẹ Terésa bắt đầu những công-tác từ-thiện bác-ái với vài đồng bạc trong túi.  Năm 1965 trung-tâm của Mẹ đầu tiên không nằm trên đất Ấn Độ mà được thành lập tại Venezuela.

Cũng năm này, Đức Giáo Hoàng Paul VI (Phao-Lô đệ lục) thăm Mẹ tại Bombay. Ông đi diễn hành cùng đoàn tùy-tùng trên khắp đường phố bằng chiếc xe mui trần hiệu “Lincoln Continental” mới nhất; thấy hình-ảnh Mẹ Teresa với những người đói-khổ tại Ấn-Độ. Đức Giáo Hoàng trao tặng lại cho Mẹ Teresa chiếc xe đắt giá này, nhưng Mẹ đã không bao giờ dùng tới nó.  Mẹ cũng không bán đi mà dùng làm xổ-số, sau đó Mẹ quyên được hơn $100,000 để lo cho những người tất-bạt lúc bấy giờ.
Năm 1969, chính-phủ Ấn-Độ tặng một khoảng đất rộng 36 arcre cho Hội và Mẹ đã cho xây cất nhà dành cho người mang bệnh phong-cùi. Đến cuối thập niên 60, tống cộng 25 trung tâm như thế đã được thành lập. (*)

Từ năm 1991 tới ngày 20.12.1995, Mẹ Terésa đã đến Việt Nam 5 lần.

Lần thứ nhất là đầu tháng 9 năm 1991, Mẹ Terésa tới Hà-Nội gặp chính-phủ Việt-Nam.

Lần thứ hai, ngày 05.11.1993,  Mẹ đi từ Calcutta đến Saigon. Cùng đi với Mẹ là Soeur Nirmala - nay là Bề-Trên Tổng-Quyền “Dòng-Thừa-Sai-Bác-Ái” của Mẹ Terésa. Mẹ đã ở lại Sài Gòn một tuần lễ và mỗi ngày Mẹ đến chia sẻ với các nữ-tu Việt-Nam tại 428 Huỳnh Văn Bánh,  phường 14, quận Phú Nhuận, thuộc giáo xứ Tân Hoà.

Vào tháng 4 năm 1994, Mẹ sang Việt Nam lần thứ 3 cùng với 8 nữ tu đi làm việc: 4 nữ tu chăm sóc các em cô-nhi tại 38 Tú-Xương, Quận3, Saigon và 4 nữ tu chăm sóc các em khuyết-tật tại trung-tâm Thụy-An, Ba-Vì, Hưng-Hoá.  Đồng thời Mẹ Terésa làm đơn gửi chính-phủ trung-ương Hà-Nội xin mở nhà dòng tại Việt Nam.
Tôi được biết một câu chuyện kể về lần thăm Việt-Nam này của Mẹ như sau:

Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, có một Dì-Phước Việt-Nam chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa cho một linh-mục bà con đang nằm tại lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy, đó là Cha Gioan Hồ-Hán-Thanh, thuộc giáo phận Ban-Mê-Thuột.  Ông bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức nên phải nằm điều trị. Nằm cùng phòng linh-mục này có một vị đảng-viên Cộng-Sản (40 năm tuổi đảng) đã về hưu .

Mẹ Terésa và Soeur Nirmala đi tắc-xi tới mà không hề báo trước - Khi tới trước cửa phòng bệnh, dì-phước này đã nói nhỏ với Mẹ Terésa và chỉ cho Mẹ biết giường nào là của Cha Gioan Thanh và giường nào là của ông đảng-viên Cộng-Sản.

Mẹ đi thẳng tới giường ông đảng-viên hỏi thăm trước và khi biết ông ấy bị đau tim, Mẹ Terésa đã đặt bàn tay lên ngực của ông và cầu nguyện vài phút. Sau đó Mẹ lấy một tấm hình “Đức-Mẹ-Ban-Ơn” trong giỏ vải xách tay của Mẹ rồi hôn lên ảnh trước khi đưa cho ông đảng-viên Cộng-Sản và nói : “Xin Đức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục”. Tiếp đó Mẹ mới qua giường linh-mục Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của ông và cầu nguyện. Vài ngày sau, Dì-Phước người nhà tới thăm linh-mục Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là Dì-Phước ấy nhìn thấy ông đảng viên đeo tấm ảnh “Đức Mẹ Ban Ơn” trên túi áo ông ấy mặc.

Lúc ấy, Mẹ Terésa đã chia-sẻ rằng : “Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình hạnh phúc; chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười;  hãy mỉm cười ít nhất là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào! Xin hãy làm điều đó vì hoà-bình! Ngày nay trên thế-giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều! Những đau khổ về vật chất như : đau khổ vì đói, đau khổ vì không nhà cửa, đau khổ vì bệnh tật … Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là sự cô-đơn! Bị bỏ rơi, không ai yêu-thương là căn bệnh khủng-khiếp nhất mà bất cứ ai cũng đều cảm-nhận được”.

Đầu tháng 9 năm 1994, Mẹ lại qua Việt-Nam ở Hà Nội và Saigon trong 10 ngày.
Ngày 20.12.1995, Mẹ Terésa và Soeur Nirmala lại sang Hà Nội. Lần này Mẹ xin cho các soeurs được tiếp-tục làm việc - vì chính-phủ Việt-Nam không cho phép các soeurs gia- hạn tiếp visa.  Nhưng ngày 22, tháng 12, năm 1995,  Mẹ Terésa nhận được lệnh là các soeurs phải rời khỏi Việt-Nam ngay hôm sau tức ngày 23, tháng 12.  Mẹ Terésa rất buồn về điều ấy vì ước ao của Mẹ là được mở nhà tình-thương chăm sóc người nghèo-khổ tại Việt-Nam nhưng lúc bấy giờ lại bị từ-chối.

Sau khi rời Việt Nam, Mẹ Terésa thấy chưa được phép mở nhà tình-thương  cũng như chưa bảo-lãnh các Soeurs Việt qua Ấn Độ được nên Mẹ đã viết thư cho Đức Giám-Quản-Tông-Toà địa-phận Sài Gòn là ông Nicolas Huỳnh-Văn-Nghi, xin được thành lập Hội dòng mang tên “Thừa Sai Bác Ái” (tức là dòng Nữ-Tử-Bác-Ái) và sống theo hiến-luật, linh-đạo của Dòng Mẹ Terésa – Đức-Giám-Quản Nicolas đã chấp thuận.

Năm 1995, Dòng Nữ-Tử-Bác-Ái có 30 Dì-Phước, đến nay đã hơn 120 người gồm 58 khấn, 23 tập-sinh và trên 40 thỉnh-sinh. Dòng đã và đang phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo qua việc đón nhận những cụ già neo đơn bị bỏ rơi, các cô gái lầm lỡ, chăm sóc bệnh nhân AIDS. v.v…
Tính đến ngày 09.06 2006, chính-phủ đương-thời Việt-nam đã cho phép Dòng “Nữ Tử Bác-Ái” của Mẹ Teresa chính-thức hoạt-động từ-thiện và đặt văn-phòng tại số 428 Huỳnh-Văn-Bánh, phường 14, quận Phú-Nhuận. Saigon.
Hai nhà Dòng tại Việt Nam là nhà thứ 501 và 502 của Mẹ Terésa Calcutta thành-lập trên toàn thế-giới.

Mẹ Terésa đã về cõi Thiên-Quốc lúc 9giờ 30phút tối ngày 5, tháng 9, năm 1997.  Ấn-Độ tổ-chức lễ Quốc-Tang vào ngày 13 tháng 09, năm 1997.  Ngày 19 tháng 10, năm 2003 Giáo Hội Rome tổ chức Thánh-Lễ phong Chân-Phước cho Mẹ Terésa. Nhân đó, Hội- Đồng-Giám-Mục Ấn-Độ, với sự ủng hộ rất đông người trong nước, đã chính thức đề nghị Thủ-Tướng Ấn-Độ lúc bấy giờ là ông Vajpayee tuyên bố ngày 19 tháng 10 năm 2003 là ngày lễ nghỉ của toàn quốc-gia.

Mẹ Terésa ra đi nhưng đã để lại cho hậu-thế chúng ta những lời vàng-ngọc như sau:
“Hoa-quả của thinh-lặng là cầu-nguyện.  Hoa-quả của cầu-nguyện là đức-tin.  Hoa-quả của đức-tin là tình-yêu.  Hoa-quả của tình-yêu là phục-vụ.  Hoa-quả của phục-vụ là sự bình-an”.

Mẹ Terésa đã được Chúa Trời chọn trong ơn gọi tu-trì và phục-vụ.  chúng con xin Mẹ hãy đem ánh-sáng tình-thương của Mẹ chiếu tỏa chan-hòa đến những người cùng-khổ khắp nơi trên toàn thế-giới.  Cách riêng xin Mẹ đoái-thương đến những người cùi hủi, già yếu bệnh-hoạn, những trẻ em mồ côi tàn tật mù, đui, câm, điếc.  Đặc-biệt là những nạn-nhân của bão-lũ thiên-tai hiện nay tại Việt-Nam.

Cũng xin Mẹ ban cho chúng con thêm lòng kiên-trì, sức khỏe để tiếp-tục vững-trãi trên bước đường chia-xẻ tình-thương đến tha-nhân.  Tháng Mười Mùa Thu, chúng con xin Tạ-Ơn Mẹ đã ban tặng cho chúng con những hoa-quả ngọt ngào của sự an-bình, hạnh-phúc hôm nay và mãi mãi.

(Nghiên-cứu và viết lại trong niềm trân-trọng kính-dâng Mẹ Terésa Calcutta nhân kỷ-niệm 8 năm ngày Mẹ được phong Á-Thánh.)

(*) Dựa theo các tài-liệu của UTC-Time Clock, Wikipedia, Veritas Book, Web. of Mother Teresa Calcutta.





 

 
HỒI KÝ VÀ NỖI BÀNG HOÀNG VỀ MỘT CHUYẾN ĐI VIỆT-NAM.

                                                                 
Những ngày cuối năm mưa thường như trút nước xuống Việt-Nam, từ Saigon đến Hà-Nội.  Mưa làm hầu hết những con đường thành-phố ngập lụt.  Từ các phố Lương-Đình-Của, Phạm-Ngọc-Thạch, Thái-Hà… (Hà-Nội) đến khu chợ Tân-Định, Phú-Nhuận, Gia-Định…(Saigon) có ngày ngập nước đến gần cổ người đi bộ.  Thật là khủng khiếp khi hình ảnh chuột chết trôi lềnh bềnh cùng rác rưởi tanh tưởi khắp mọi nơi.  Người ta cứ đổ thừa cho việc “Trái Đất Biến Đổi Khí Hậu” mà không hề để ý đến các hồ thoát nước ở ngoại-ô đã bị san bằng để xây nhà cao tầng, xây biệt-thự cho Việt-Kiều và giới cao cấp đầu tư làm giàu.  Có những người Việt-Nam bỗng chốc trở thành Tỷ-Tỷ-Phú (tính theo đô-la Mỹ, chứ không phải Tỷ tiền Việt-Nam) nhờ vào ngành Địa-Ốc…???


 


Tôi chợt nhớ đến những sông rạch thoát nước tại miền Nam California.  Nếu có ai trong chúng ta đi từ thành-phố Diamond Bar về vùng Santa Ana-Little Saigon, theo (quốc-lộ) “Freeway 57 South” –Anaheim , trước khi vào “Freeway 22 West” sẽ nhận thấy dọc theo hai bên đường là những con kênh, mùa khô cạn ráo, trông thật vô-lý.  Nhưng nếu mưa xuống thì chỉ một ngày sau nước sẽ gần muốn tràn bờ.  Đây là những đường thoát nước ra biển mỗi khi miền Nam California có mưa.  Dựa theo tư-liệu về Santa Ana River:(Downstream of there, the river serves only for flood control and waste drainage purposes, and typically has no more than a trickle of water. Passing the cities of Orange and Tustin, it receives Santiago Creek from the left as it enters the city of Anaheim. Here, the river is entirely confined to a concrete flood control channel between earthen levees. After crossing under Interstate 5 near Santa Ana the riverbed again becomes earthen as it flows to its mouth between Huntington Beach and Newport Beach. The river accretes in a small lagoon before flowing out to sea at the northern end of Santa Ana River County Beach…)

Chính-Phủ Hoa-Kỳ cho lập những con kênh này không ngoài mục đích chống lụt vì ở khoảng năm 1862;  vùng Huntington Beach miền Nam California đã bị ngập lụt hoàn toàn bởi mưa bão và nhiều mạng người cùng tài-sản đã bị cuốn đi, mang lại thiệt-hại vô cùng trầm trọng cho miền này. (Storms in 1862 accounted for a peak flow of 320,000 cubic feet per second in the upper river and created an inland sea in Orange County. Lasting about three weeks with water standing four feet deep up to four miles from the river, this disaster almost equaled a 200-year or worst possible flood. (City of Huntington Beach Flood Study 1974)

Tôi cũng lại nhớ đến lời của một bài nhạc, ôm đàn guitar thùng hát nho nhỏ:

“Mưa Saigon! Ơi mưa Saigon.  Bờ đại-dương em còn chờ ngóng.  Ta ra đi mất lối quay về.  Rồi chiều mưa, ai đón đưa ai”…

Tự cảm nhận mình đã thực-sự không còn lối quay về dù vé máy bay đang cầm trong tay, mỗi ngày theo dõi tin tức trên các trang Web. Tin thời tiết cho biết sẽ mưa nặng hạt suốt mười hôm sắp đến tại Việt-Nam.  Tôi định dời lại ngày về nhưng khi nghĩ đến các Soeur bạn của tôi đang đi làm từ thiện ngoài Bắc nắng gió xa xôi muôn trùng.  Tôi đã hứa sẽ về đồng hành cùng các Soeur trên bước đường chia xẻ tình-thương trong tháng này, suốt ngày không ngớt lời cầu nguyện.  Cuối cùng tôi cũng đáp đuợc chuyến bay đến phi-trường Nội-Bài (Hà-Nội) như lời ước hẹn cùng các Soeur bạn.  

Thật diệu-kỳ khi Trời thương cho dứt hẳn những cơn mưa.  Nắng chan hòa trong những ngày tôi len lỏi vào các làng mạc xa xôi đi thăm những thanh-niên, thiếu-nữ đẹp như trăng rằm bị lây nhiễm HIV sống cầm chừng từng ngày và chờ chết.  Tôi cũng được biết phần lớn số bệnh-nhân mắc bệnh “Si-Đa” ở Việt-Nam lây lan qua đường kim-chích và những quan-hệ xác thịt bất-chính, lớp thanh-niên ngày nay đang lao vào con đường nghiện ngập, ma-túy, thuốc lắc như những con thiêu-thân.  Họ không được giáo-dục từ trong gia-đình lẫn học-đường.  Trẻ em thất-học vì không có tiền cắp sách đến trường, lêu lỏng từ những ngày còn thơ bé.  Đối với chúng những từ “Luân-Thường-Đạo-Lý.  Nhân-Nghĩa-Lễ-Chí-Tín.  Sống Ích-Quốc-Lợi-Dân…” hoàn toàn xa lạ.  Tiếp xúc truyện trò với các thiếu-nữ tôi phải hết sức tế-nhị vì vấn đề quá “nhạy-cảm” khi biết rằng ngày mai các em sẽ giã từ tôi và cõi trần-gian ô-trọc này để đi qua một thế-giới khác.  Tôi cũng không dám quay phim tài-liệu ở những nơi đây khi mà  “Bản Án Tử-Hình” đang đeo trên người các em.  
 



Có một cô gái 23 tuổi, khuôn mặt và thân-hình đẹp; không ai có thể nghĩ rằng cô đang mang trong người căn bệnh Si-Đa ngặt nghèo; chân tình tâm sự bằng một giọng Bắc (pha Trung) trọ trẹ:

“Cô xem đấy!  Chỉ vì nhà quá nghèo.  Các em đông. Thầy, U làm ruộng không đủ ăn.  Chỉ có mình con là con gái.  Con phải đi làm nghề “ấy” mới có tiền đem về lo cho cả nhà,  mắc phải bệnh Si-Đa, lại lây qua hai đứa con nhỏ, khổ quá cô ơi!  Giờ về quê sống những ngày còn lại.  Cô và các Sơ cầu-nguyện cho con với…”

Rồi người thiếu nữ ấy, các con cùng cả nhà ôm mặt khóc rưng rức.  Tôi bàng hoàng khi được các Soeurs dẫn đi thăm cả làng, nhà nào cũng có người mắc bệnh Si-Đa.  Trời tháng này miền quê xứ Bắc nóng đổ lửa, mồ hôi trên trán tôi chan hòa lẫn với những giọt nước mắt mặn bờ môi.  Tôi không thốt ra được lời nào để gọi là an-ủi những cảnh đời bất hạnh này.  Miệng tôi đắng chát, cổ họng khô cứng, chỉ có nước mắt và những lời kinh khấn-nguyện miên man trong óc, trong tim tôi.

Biết trách ai bây giờ? Trách những Ông Lớn Lãnh Đạo Quốc-Gia ư? Trách cho hoàn cảnh trớ trêu đưa đẩy thanh-niên, thiếu nữ Việt-Nam vào vòng xa-đọa?  Trách những người đàn ông mua vui trên thân xác phụ-nữ Việt-Nam? Hay trách chính các em không biết sống câu: “Nghèo Cho Sạch, Rách Cho Thơm” !!!

 
Mother Terésa.

Tôi lại liên tưởng đến hình ảnh Mẹ Terésa (Calcutta) cặm cụi năm này qua tháng nọ.  Mẹ len lỏi trong các hang cùng, ngõ hẹp hôi hám, tối tăm ở Calcutta (Ấn-Độ) đem những người cùng khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, không nhà không cửa về chăm sóc.  Tôi đã sủng-ái, tôn thờ và nguyện theo gót chân Mẹ.  Sao giờ bỗng chùng lòng, chùn bước nơi chốn này?  Quê-Hương của tôi.  Nước Việt-Nam yêu dấu ngàn đời!  Bao giờ mới hết cảnh lầm than và trắc ẩn?

Tôi tiếp tục dấn bước cùng các Soeur nhưng dường như vết thương lòng đang rỉ máu.  Rồi những mẩu đối thoại của các thanh-niên Việt-Kiều khi ngồi trên máy bay nghe họ kháo nhau một cách rất tự-nhiên:

“Tao sẽ dẫn mày đi đến những chỗ này, rẻ như bèo.  Đẹp như Tiên.  Tụi mình phải trả thù dân-tộc chứ!  Tụi đàn ông Đại-Hàn, Đài-Loan lựa con gái Việt-Nam mình như lựa bó rau, thịt heo bán ngoài chợ.  Mình phải cho các em thấy thanh-niên Việt-Kiều mình ngon lành hơn tụi nó. Có ngày một trong đám tụi mình phải trở thành Từ-Hải để đưa các nàng Kiều ra khỏi chốn lầu xanh chứ!…” v.v… và v.v…

Tai tôi bỗng lùng bùng khi có tiếng gọi thất thanh từ trong một căn nhà ọp-ẹp gần đó:

“Các Soeur ơi!  Cô ơi!  Bố con chết rồi!  Bố con bị Si-Đa chết rồi.  Cứu chúng con với…”

Người thanh-niên tuổi ngoài ba-mươi đang dẫy chết trên sàn nhà.  Tôi và các Soeur chạy vội đến kịp đọc những lời kinh cầu cho linh-hồn của anh và xin Chúa tha-thứ những lỗi lầm  anh ta đã mắc phạm trong suốt kiếp làm người.  

 



Ngay hôm sau có Cha trong vùng Giáo-Xứ nghèo nàn ấy đến làm Lễ đám ma.  Tôi nghe nói xác ông không được mang vào nhà Thờ (dù ông ấy là người Công-Giáo); chỉ quấn trong một chiếc chiếu và sẽ chôn trong một khu nghĩa-địa dành riêng cho những kẻ mắc bệnh “Si-Đa”.

Một tuần sau, tôi cũng rời miền Bắc bay vào Nam để đi thăm các Thương-Binh và thăm một “Mái-Ấm Tình Thương” nuôi các thiếu-nữ lỡ-lầm, bụng mang dạ chửa vì “nghề-nghiệp”. Không nỡ phá thai nên tìm đến mái ấm này nhờ các Soeur chăm sóc, sanh nở.  Tôi cũng biết ra tại Saigon và Hà-Nội trung bình mỗi ngày có gần một nghìn Bào-Thai bị phá.  Các Soeur phải len lỏi vào làm y-tá trong những bệnh-viện để đem các Thai-Nhi về hỏa thiêu, rồi cất trong những lọ nhỏ, sau đó được chôn cẩn thận trong một ngôi nhà xa thành-phố gọi là: “Lăng Của Các Thánh Anh-Hài”.


 

Tài-xế đưa tôi trở về khách-sạn cư-trú qua đêm, dọc hai bên phố linh-đình các quán nhậu, người dân Việt-Nam nhậu từ sáng đến chiều tối, khuya.  Gần như là 24/24.  Những quán Café chăng đèn xanh, đèn đỏ, quán  Karaoke, Vũ-Trường điên cuồng trong các điệu nhạc.  

 



Có biết đâu những chốn ăn chơi này mang bao niềm trắc ẩn của cả một thế-hệ Việt-Nam hôm nay, khi mà còn đó hình ảnh người phu quét đường nghèo nàn, lầm lũi về đêm kéo theo một chiếc xe rác tanh-hôi, dơ bẩn.  

Tôi ước ao có những cây chổi Thần và tự nghĩ: “Làm thế nào những người phu quét đường cần cù, thấp kém nhất của xã-hội hôm nay có thể hốt hết được những trụy-lạc, tội-lỗi, rác rưởi của cả một xã-hội Việt-Nam nhỉ!”

Viết lại hồi-ký này trong nỗi bàng-hoàng về sự khấp-khểnh, chênh vênh, vô định của người dân tôi trong một đất nước đang trở mình phát triển sau “1000 năm nô-lệ giặc Tàu, 100 năm đô-hộ giặc Tây, 20 năm nội-chiến từng ngày” và không biết còn bao nhiêu năm nữa người dân nghèo mới hết cảnh đói khổ lầm than, thế-hệ trẻ mới thôi hết đời trầm-luân trụy-lạc???

                                                                  (Viết cho tài-liệu tháng 10)
Tháng 9, 2011 là kỷ niệm đúng 30 năm tác-giả Diamond Bích-Ngọc rời thành-phố thân yêu: Saigon, Việt-Nam để vượt biển bắt đầu cuộc sống lưu-vong đến ngày hôm nay.  Bài viết dưới đây nhằm tỏ lòng tri-ân đến quốc-gia Australia đã cưu-mang tác-giả trong những ngày đầu tiên bơ-vơ nơi đất khách.  Thank-you Australia!

TÀI-LIỆU THÁNG 9, 2011.
 

NHỮNG NGƯỜI LÍNH ÚC TRONG CHIẾN-TRANH VIỆT-NAM.

                                                                                   “Chân-Quê”: Diamond Bích-Ngọc.

Khoảng cuối tháng 9, năm 1981, nhờ gia-đình “Vovinam” do ông anh tôi là Võ-Sư Trần-Huy-Phong tổ-chức; sau ba ngày đêm vượt biển, tàu của chúng tôi được giàn khoan dầu quốc-tế cứu vớt và đưa vào Pulau Bidong; một hòn đảo ở Mã-Lai-Á.  Lúc bấy giờ trên Bidong có khoảng hơn 7000 người dân Việt tỵ-nạn.  Vì có chút ít vốn liếng tiếng Anh tôi đã học cả mấy năm Trời để chuẩn bị đi vượt-biên từ cô-giáo Thức (phu-nhân của thầy Đ-V-H.) nên tôi được vào làm thư-ký cho văn-phòng Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc trong trại.  “Boss” của tôi là ông Henrry, người nước Úc (tôi không còn nhớ Last-Name của ông). 


Đảo Pulau Bidong (Mã-Lai-Á).

Hụt hẫng, chơi vơi khi một thân, một mình vượt biển xa nhà, đến được vùng đất tạm-dung.  Không thân-nhân họ hàng ở ngoại-quốc nên tôi chẳng biết mình sẽ đi về đâu định-cư để bắt đầu cho cuộc đời lưu-vong.  Những người ở cùng đảo đều khuyên tôi nên “ghép hộ” với một gia-đình nào đó để được đi Mỹ.  Vì ai ai lúc bấy giờ cũng nghĩ Hoa-Kỳ là “Number One”.  May sao có ông Henrry; ông đề nghị tôi nên đi Úc, ông bảo: “Dân Việt-Nam tỵ-nạn qua Úc đã khá đông rồi, diện ưu-tiên cho những người biết nghề làm bánh-mì,  (đây là lý-do sau này tôi mới nhận ra ở các thành-phố lớn như Melbourne, Sydney, Brisbane có rất nhiều cửa tiệm Bakery do người Việt làm chủ).  Nhưng số lượng thanh-niên nhiều hơn thiếu-nữ.  Vì vậy, nước Úc dễ dàng đón nhận những người nữ độc-thân như tôi cho quân-bình giới-tính.  Nếu chấp thuận, chỉ một tuần sau tôi sẽ được qua trại chuyển-tiếp ở Kuala Lumpur và không lâu tôi sẽ được định cư ở thành-phố Melbourne, Australia”.

Nghe nói sẽ được đi ngay nhờ sự trợ giúp của ông Henrry; tôi mừng thầm vì thú-thật ở đảo Pulau-Bidong mới được một tuần lễ, thiếu thốn trăm bề, nấu ăn phải thổi lửa bằng củi.  Nằm ngủ ván gỗ trong một mái nhà tranh ở khu “C”; dù sát cạnh bờ biển nghe sóng vỗ hằng đêm nhưng lúc nào cũng phập phồng lo sợ vì nhà không có cửa chốt, then gài cho thân-phận con gái như tôi.  Nỗi sợ lớn nhất là trên đảo có rất nhiều dán và nghe nói cả chuột nữa; tôi đã có lần té xỉu ngay tại chỗ bởi một con dán đậu trên vai mình và rất may được bà con hàng xóm “CẤP CỨU” kịp thời.

Đúng như lời ông Henrry, chỉ một tuần sau tôi dời đảo Pulau-Bidong; bước chân lên cây cầu người tỵ-nạn thường gọi là “Zét-Ti”, mang theo bao kỷ-niệm của đúng ba tuần lễ ở đây.  Niềm rưng rưng nghẹn ngào lẫn trong tiếng hát của chính tôi đã thâu ở “Phòng Thông-Tin” nhạc phẩm “Hẹn Nhé!”; thường được phát ra trên loa phóng-thanh nhằm tiễn những người dời đảo đi định-cư;  đây là một sáng tác của tác-giả Hà-Thúc-Sinh:  “Hẹn nhé! Hẹn nhe! Hẹn gặp lại nhé dẫu cho dòng đời chia rẽ.  Hẹn nhe! Hẹn nhé! Hẹn gặp nhau nhe dẫu có lạc loài bơ-vơ.  Địa-cầu thênh-thang chiếc lá đời mình xa đưa.  Bạn ơi!  Đừng quên hẹn nơi Việt-Nam; đời lưu-vong hãy nhớ nhau trong lời nguyện cầu…Hẹn giữa Việt-Nam, một ngày mai đất nước huy-hoàng…”

 
Bản-Đồ tổng-thể nước Úc.

Tôi đặt chân đến miền “Down Under” vào ngày 2, tháng 12, năm 1981.  Sửa soạn cho những ngày hè nóng nực ở Melbourne.  (Nên nhớ: mùa đông ở Mỹ thì Úc ngược lại là vào Hạ).  Cũng xin nói thêm; “Down Under” là tiếng lóng của người Úc (Australian Slang).  Ý chỉ nước Úc và New Zealand vì vị-trí trên bản-đồ thế-giới nằm tận dưới nam bán cầu.  Tôi còn học được thêm nhiều tiếng lóng khác như: “Aussie”: người Úc. “Cranky”: giận hờn, khó chịu. “Roo”: con Đại-Thử Kangaroo. “Chook”: con Gà.  “Maccas”: McDonald’s. “Jackaroo”: bàn tay người đàn ông nông-dân.  Người Úc gặp gỡ chào nhau bằng câu: “How are you, Mate?” Chữ “Mate” phát-âm theo tiếng Việt giống chữ “Mầy” (Tao) có nghĩa là: bạn thân “buddy, friend”.

Thời ấy, người dân tỵ-nạn như tôi được đối xử hết sức tử tế.  Ở trong khách-sạn, gọi là “Hostel” được cung cấp ngày ba bữa: Breakfast, Lunch, Dinner.  Phòng ngủ có người làm giường, “clean-up” mỗi ngày.  Đi học tiếng Anh và được trả lương (lúc ấy là hơn 50đô Úc cho 2 tuần lễ); nếu không đi học thì sẽ bị cúp ngay tiền này.  Có những lớp dạy về “Hội-Nhập Đời Sống Mới” chỉ cho những người “Chân-Quê” mộc mạc những cách sống văn-minh.  Như đi đến bưu-điện, tiệm ăn, quầy trả tiền, cơ-quan, ngân-hàng… Phải xếp hàng thứ-tự, không được chen lấn, giữa nơi công chúng, không nói lớn tiếng không la hét om-sòm. (Nếu như ở thiên-niên-kỷ này thì chắc các Thầy Cô sẽ dạy chúng tôi thêm phép lịch-sự là không nói chuyện phone cầm tay ồn ào và mở speaker phone đối thoại giữa nơi công cộng). Phải giữ gìn vệ-sinh, không vứt rác hoặc khạc nhổ bừa bãi, dơ dáy.  Không tự tiện lấy hàng-hóa, thức ăn bỏ túi mà không trả tiền.  Không khai gian lận để lãnh tiền trợ-cấp của chính-phủ v.v và v.v…

Sau sáu tháng ở Hostel, tôi bắt đầu đi học ngành “Social Worker” từ buổi chiều đến tối vì ban ngày phải đi làm để kiếm tiền gửi về Việt-Nam biếu gia-đình, bè bạn.  Công việc đầu tiên của tôi là làm ở hãng may, còn nhớ những ngày đầu vừa may quần Jean, áo Sơ-Mi vừa ngậm nước mắt tủi thân, ở bên quê nhà quen ăn sung, mặc sướng.  Dầu cả nước đổi tiền bao nhiêu lần sau 30, tháng 4, năm 1975.  Tôi vẫn không biết hạt “BoBo” là gì.  Nhờ Mẹ tôi chắt chiu, khôn khéo, quán-xuyến không để gia-đình bị đói một ngày nào.  Tôi chỉ biết đi học, vui chơi thể-thao và ca hát.   

Hết công việc may vá, tôi chuyển qua làm hãng đinh bụi sắt mù trời.  Nhiệm vụ của tôi là bấm nút cho đinh từ trên một máng-xối đổ vào hộp “ca-tông” , sau đó đậy nắp hộp lại, chất lên xe “fork-lift” cho đầy khay và cứ thế những động tác liên-tục trong suốt 8 tiếng một ngày.  Đến chiều vào lớp học ngủ gà, ngủ gật.  Tay tôi lúc nào cũng dán băng keo vì các vết thương trầy da, rướm máu bởi đinh đâm.

Mẹ tôi vẫn dặn: “Có Công Mài Sắt, Có Ngày Nên Kim”.  Cặm cụi học một thời-gian, tôi kiếm được công việc văn-phòng làm cho Hội-Đồng-Thành-Phố Springvale,  tiểu-bang Victoria.  Rồi đến cơ-quan “VICSEG” (viết tắt của chữ VIctoria-Co-operative-Services-for-Ethnic-Groups) ở thành-phố Melbourne.  Vì nước Úc luôn luôn tôn-trọng nền văn-hóa của người di-dân.  Được mệnh danh là “Multi-Culture” (đất nưóc Đa-Văn-Hóa) nên trong các sinh-hoạt như họp-hành từ học-đường đến cơ-quan chính-phủ, tiếng nói về nhu-cầu của mọi sắc dân thiểu-số được lắng nghe và giải-quyết thỏa đáng.   Một trong những “Project” tôi được góp công đó là “Bi-Lingual” (Song-Ngữ) cho giới trẻ Việt-Nam, được duy-trì tiếng Mẹ đẻ nhưng vẫn không ngừng phát triển tiếng Anh để giao-tế và học-hành với người bản xứ.  Thời ấy, tôi đã thực-hiện một “cassete” sau này chuyển qua “CD” nhạc song-ngữ cho thiếu-nhi mang tên “Tuổi Hồng” gồm hơn mười bài hát như: “Cờ Lau Tập Trận, Trưng-Nữ-Vương, Tết Trung-Thu, Cái Nhà Của Ta…”  Quý độc-giả có thể nghe toàn bộ CD này trên web: www.diamondbichngoc.com, mục: “Âm-Nhạc”.  Đến năm 1993, tôi bán lại bản-quyền với giá $1,000US cho trung-tâm “Thế-Hệ-Trẻ” ở Hoa-Kỳ độc quyền phát-hành.  Toàn bộ số tiền ấy tôi đã giao lại cho hội thiện-nguyện “Chữ Thập Xanh” (Green-Cross) ở quận Cam để đem về giúp các trẻ em cô-nhi tàn-tật tại Việt-Nam.

Nhờ công việc “Cán-Sự Xã-Hội” (social worker) ở Melbourne, tôi được dịp gặp những người lính Úc đã từng tham-gia chiến-tranh Việt-Nam.  Còn nhớ trong một bữa tiệc hội-ngộ các Cựu-Chiến-Binh Úc-Việt, tôi phụ trách mục tiếp-tân và văn-nghệ với chương-trình song-ngữ.  Phần mở đầu, các cựu-chiến-binh Úc bước lên sân-khấu hát chung một bài nhạc vô-cùng dí-dỏm với nguyên văn như sau:

“Úc-Thòi-Loi, Cheap Charlie,
He no buy me Saigon tea,
Saigon tea costs many many P,
Úc-Thòi-Lòi he Cheap Charlie.

Úc-Thòi-Loi, Cheap Charlie,
He no give me MPC,
MPC costs many many P,
Úc-Thòi-Lòi he Cheap Charlie.
 
Úc-Thòi-Loi, Cheap Charlie,
He no go to bed with me,
Bed with me costs many many P,
Úc-Thòi-Lòi, he Cheap Charlie.
 
Úc-Thòi-loi, Cheap Charlie,
Make me give him one for free,
Mamma-san go crook at me,
Úc-Thòi-Lòi, he Cheap Charlie.
 
Úc-Thòi-Loi, Cheap Charlie,
He give baby-san to me,
Baby-san costs many many P,
Úc-Thòi-Lòi, he Cheap Charlie.
 
Úc-Thòi-Loi, Cheap Charlie,
He go home across the sea,
He leave baby-san with me,
Úc-Thòi-Lòi, he Cheap Charlie.”

Đây là bài hát mang tên “Cheap Charlie”, nguyên-thủy lấy từ loại nhạc ru con từ năm 1906 của người Anh (English) mang tên “This Old Man” hay còn gọi là  “Nick, Nack, Paddywack Give The Dog A Bone”.  “Cheap Charlie” được hầu hết những người lính Úc tham-chiến tại Việt-Nam lúc bấy giờ biết đến. 
Tôi tò-mò hỏi chuyện làm quen. Họ mới kể rằng từ năm 1962 có khoảng hơn 50 ngàn người lính Úc được đưa vào Việt-Nam để tham-chiến, là quân-đội đồng-minh của lính Mỹ và Việt-Nam-Cộng-Hòa. Đến 1973 thì những toán lính Úc cuối cùng rút quân về nước.  Ước lượng có hơn 2400 chiến-binh Úc bị thương và khoảng 520 người tử-trận trên quê-hương Việt-Nam.  Đồn trú của quân-đội Úc phần lớn ở tỉnh Bà-Rịa, Phước-Tuy. Vũng-Tàu.  Ngoài việc đánh giặc, họ đã mở các lớp dậy học tiếng Anh, dậy các môn thể-thao cho thanh-thiếu-niên Việt-Nam cũng như trình diễn văn-nghệ ngoài Trời tại đây. 

Khi hỏi về ý-nghĩa bài hát trên.  Tôi được nghe giải thích rằng:  Lính Úc không thích vào quán “Bar” như lính Mỹ, vì thế họ mới bị mang tiếng “Cheap” (kẹo) không chi-tiền cho những cô-gái tiếp-viên của các quán Bar này.  Nhưng họ rất giỏi trong những chiến-thuật đánh nhau với quân giặc. “Charlie” là tiếng lóng ý-chỉ “Việt-Cộng” khi nhắn tin cho nhau trên máy truyền-thanh trong lúc giáp trận.  Chữ  “Úc-Thòi-Lòi” trở thành quen thuộc vì người Việt-Nam hay nói “Úc-Đại-Lợi”; người Úc không phát-âm đúng cách bỏ dấu nên nói trại thành “Úc-Thòi-Lòi”.

Đã có lần trong một bài viết mang tên “Vùng Đất Lành Chim Đậu” chúng tôi có nói sơ qua về nước Úc, xin được phép viết lại như sau:
Trước kia Úc-Đại-Lợi được coi như là một Châu.  Người Việt-Nam ta thường có câu : “Đi Khắp Năm Châu, Bốn Bể”, ý nói về: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc. Ngày nay, trong các học đường, sách Gíáo-Khoa dạy là Thế-Giới gồm bảy Châu:  Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ Châu, Bắc Mỹ Châu, Nam-Cực-Châu và Đại-Dương-Châu.  Trong đó Úc-Châu nằm trong Đại-Dương-Châu.
Nước Úc nằm giữa nước Ấn-Độ và Nam Thái Bình Dương, cách miền Tây-Nam của Bắc Mỹ là bảy ngàn dặm (khoảng mười một ngàn cây số).  Cách vùng Đông Nam, vùng đất chính của Á Châu (main-land of Asia)  hai ngàn dặm (khoảng ba ngàn hai trăm cây số). Nước Úc nằm ở phía Nam-Bán-Cầu. (Bắc-Bán-Cầu và Nam-Bán-Cầu chia đôi bởi đường xích-đạo).

Tên gọi “Australia” khởi nguồn từ tiếng La-Tinh, từ chữ “Australis”. Có nghĩa là “Miền Nam” ý chỉ phương Nam (Southern). Thổ dân Úc đầu tiên là người da đen “Aborigines”, họ đã có mặt trên đất Úc khoảng bốn đến năm mươi ngàn năm B.C (Before Christ.: trước Thiên-Chúa Giáng-Sinh).

Vào năm 1606 A.D (sau Thiên-Chúa Giáng-Sinh, A.D tiếng La-Tinh viết tắt từ chữ: “Anno-Domini”, có nghĩa là kỷ-nguyên của Thiên-Chúa), có ông Williams Zens, là người Âu-Châu đầu tiên khám phá ra đất Úc. Sau đó,  năm 1770, ông James Cook tìm đến và khai thác bờ biển miền Đông nước Úc, ông đặt tên cho vùng này là New-South-Wales (N.S.W) và coi như đây là lãnh thổ của người Anh (England).  N.S.W ngày nay là một trong những tiểu bang của nước Úc, thành phố Sydney có rất đông người Việt cũng là thành phố chính của tiểu bang này. Vào năm 1788, người Anh dùng vùng N.S.W để làm thuộc địa chứa tù nhân.

Mãi đến năm 1901, nước Úc mới được độc lập, đương kim chính-phủ lúc bấy giờ lấy thành phố Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria làm Thủ-Đô tạm thời.  Sau này, vào năm 1927, chính-phủ Úc dời Thủ-Đô từ Melbourne về Canberra.  Cho đến ngày nay Canberra vẫn là Thủ-Đô của nước Úc.

Từ năm 1967, chính-phủ Úc mới bắt đầu có những chương trình lo cho người Thổ-Dân (Aborigines) như về sức khỏe (Health-Care), về tiền trợ cấp (Welfare), nhà cửa (Housing) v.v…


Người Thổ-Dân Úc và các nhạc-cụ cổ-truyền.

 Hơn một thế-kỷ trước, nhiều sắc dân trên toàn thế giới đã đến nước Úc để tìm vàng.  Ngày nay còn rất nhiều di-tích cổ của những vùng mỏ vàng.  Có hơn năm mươi sắc dân di cư đến Úc, nhất là sau năm 1975, làn sóng người Việt tỵ nạn được đến Úc định cư ngày càng gia tăng, chính-phủ Úc đã lo đầy đủ vấn đề An-Sinh Xã-Hội, Y-Tế, Giáo-Dục… trong quy-chế cho người tỵ-nạn chúng ta.  Họ chấp nhận và tôn trọng nền văn-hóa, phong tục của mọi sắc dân, vì thế nước Úc được coi là một nước “Đa Văn Hóa” (Multi-Cuture).  Người Việt tỵ nạn phần nhiều định cư tại các thành-phố lớn là Sydney, Melbourne và Brisbane, một số ít đi về vùng Adelaide (miền Nam nước Úc) và có ít người Việt ở Perth (miền Tây-Nam nước Úc) cũng như vùng Darwin (nơi rất nhiều thổ-dân thuộc miền cực Bắc nước Úc). 

Tại một hòn đảo rất đẹp là Phillip Island, Victoria. Australia có một Viện-Bảo-Tàng mang tên: “National Vietnam Veterans Museum” lưu dấu thời chiến-tranh Việt-Nam. Gồm rất nhiều các kỷ-vật, hình-ảnh, xe-tăng, trực-thăng… Được xây dựng từ ngày 9, tháng 3, năm 2007 bởi ông Steve Bracks MP khởi xướng.  Nơi đây cũng có một quán Café tên: “Núi Đất” rất dễ-thương để các Cựu-Chiến-Binh gặp gỡ, hàn huyên tâm-sự.


 

Tôi vẫn còn giữ liên lạc với những Cựu-Chiến-Binh Úc.  Tôi cũng có những người bạn độc-thân là lính Việt-Nam-Cộng-Hòa ở Mỹ, di-dân từ Mỹ sang nước Úc bằng cách lấy vợ quốc-tịch Úc và hiện nay họ được hưởng lương hưu bổng của Cựu-Quân-Nhân, quyền-lợi y-tế đầy đủ suốt đời; không phải lo nghĩ về tiền mua bảo-hiểm sức khỏe chi cả, cuộc sống vô cùng ổn định và điểm đặc-biệt là chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy những người Vô-Gia-Cư  “Homeless” cầm bảng có ghi chữ: “Vietnam Veterans” để xin tiền nơi đầu đường, góc phố tại Australia (như ở California, nhất là các góc đường trong khu Little Saigon thường thấy).

Tính đến tháng 9 năm nay: 2011 là kỷ niệm đúng 30 năm “Chân-Quê” tôi lưu-vong trên đất khách xứ người (nhiều hơn thời gian sau khi tôi sinh ra và lớn lên ở Saigon Việt-Nam).  Thay cho lời kết của bài viết này; xin tạ-ơn nước Úc là quốc-gia đầu tiên đã cưu mang đời tỵ-nạn của tôi; cũng là để tạ-ơn những người lính Úc trong chiến-tranh Việt-Nam năm xưa.  Những đồng minh đã từng sát cánh bên các chiến-binh Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa.  Tạ-Ơn các anh đã hy-sinh ngoài chiến-trường, bảo vệ sự tự-do của miền Nam Việt-Nam; cho tôi có được một thời tuổi nhỏ rất vô-tư và an-bình nơi Saigon “Hòn Ngọc Viễn-Đông” thuở ấy.  Xin Ơn Trời luôn gìn-giữ và đổ tràn hồng-ân đến các cựu-chiến-binh Australia cũng như các cựu-quân-nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa.  Cũng xin cầu-nguyện cách riêng cho vong-linh các Anh-Hùng-Tử-Sĩ đã bỏ mình hy-sinh trên đất nước Việt-Nam; những chiến-sĩ vô-danh anh-hùng bất tử của chúng tôi./.
                                                              



 

TÀI-LIỆU THÁNG 8, 2011:

NGÔI CHÙA XƯA CỦA THẦY THÍCH-QUẢNG-ĐỨC.

 
(Hình ngôi chùa xưa của Thầy Thích-Quảng-Đức trụ-trì do Chân-Quê chụp.)

                                                                                                         Chân-Quê.

Tháng 8 Dương-Lịch thường rơi vào mùa Lễ Vu-Lan. Mùa của người người Phật-Tử được thể hiện lòng báo hiếu với Mẹ-Cha, dựa theo tích xưa thời Đức Phật còn tại thế ở Ấn-Độ.  Nhân vật làm con là Mục-Kiền-Liên đã vâng lời Phật dậy thỉnh-cầu Chư-Tăng mười phương chú-nguyện cầu siêu, tịnh-độ cho Mẹ mình là bà Thanh-Đề vào ngày rằm tháng 7 Âm-Lịch (ngày Chúng-Tăng-Tự-Tứ) để bà thoát khỏi cảnh ngạ-quỷ, vạc dầu thiêu đốt.  Vì khi tại thế bà Thanh-Đề sống cả một đời ác tâm, ác ý với mọi người nên lúc chết đi bà đã xa vào địa-ngục, khổ ải trầm-luân.  Mục-Kiền-Liên đã cứu Mẹ qua nghĩa cử trên nhằm giải thoát bà Thanh-Đề đổi tâm ác thành thiện, nhờ thế bà đã vào được cảnh Niết-Bàn an-lạc đời đời.

Gia-đình là một đơn-vị của xã-hội.  Theo thuyết nhà Phật trong mùa Vu-Lan; một người con hiếu-thảo, thành-tâm có thể cứu được thân bằng, quyến thuộc mình.  Vậy thì trong một quốc-gia như Việt-Nam ngày xưa, ai đã cứu được sự tồn-tại của Phật-Giáo mà một thời đã xém bị tiêu-trừ, hủy-diệt!

Nhìn lại lịch-sử, chúng ta sẽ nhận ra rằng tất-cả những cuộc chiến-tranh trên thế-giới này  đều bắt đầu bằng lòng THAM và sự DỐI-TRÁ.

Mỗi một lần về thăm quê-hương,  tôi phải đối đầu với những cảnh chen chúc mưu-sinh, khói bụi xe cộ ngất Trời và nạn nhân-mãn ngày càng gia-tăng ở Việt-Nam.  Tuy vậy, hình ảnh đẹp, đậm nét nhất còn ghi mãi dấu-ấn trong tiềm-thức tôi là những đóa sen hồng nở rộ trên từng vùng bùn lầy, nước đục.  Đẹp tuyệt trần loài hoa thanh-tao, trang nhã.  Như một nhắc nhở không nguôi câu ca-dao Mẹ hát ru ngày nào:

“Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen,
Lá Xanh Bông Trắng Lại Chen Nhụy Vàng,
Nhuỵ Vàng Bông Trắng Lá Xanh,
Gần Bùn Mà Chẳng Hôi Tanh Mùi Bùn.”

Trong triệu triệu nhân-sinh hăm-hở, hối-hả sống ở Hà-Nội, Huế, Saigon hôm nay, vẫn còn có những không-gian an-bình trong tiếng chuông, câu kinh huyền-diệu ở những huyện làng xa xôi hẻo lánh mà chúng tôi có nhân-duyên được trở về.

Nơi chốn đó là thôn Hiền-Lương, xã Vạn-Lương, huyện Vạn-Ninh, tỉnh Khánh-Hòa do Thầy Thích-Thiện-Dương trụ-trì. Chỗ còn dấu tích ngôi chùa của thầy Thích-Quảng-Đức năm xưa.  Cũng là nơi còn nguyên vẹn cái bàn Thầy đã ngồi viết tờ chúc-thư cuối cùng trước khi vào Saigon tự-thiêu ngày 11, tháng 6, năm 1963.

 
(Hình Thượng-Tọa Thích-Quảng-Đức viết lời tâm-nguyện cuối cùng trước ngày Thầy vào Saigon tự-thiêu. Được Chân-Quê chụp lại tại ngôi chùa huyện Vạn-Ninh, tỉnh khánh-Hòa, Nha-Trang.)

Trích nguyên-văn theo tài-liệu của “Wikipedia” đã ghi rằng:

Thích Quảng Đức, thế danh Lâm Văn Tức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) là một hòa thượng phái Đại thừa, người đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Tấm ảnh chụp hòa thượng tự thiêu đã được truyền đi khắp thế giới và gây nên sự chú ý đặc biệt tới chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm. Phóng viên Malcolm Browne đã giành Giải thưởng Ảnh Báo chí Thế giới năm 1963 nhờ một bức hình chụp cảnh Thích Quảng Đức tự thiêu, và nhà báo David Halberstam, một người sau được trao giải Pulitzer, cũng đã có bản tường thuật sự kiện. Sau khi chết, thi hài của Thích Quảng Đức đã được hỏa táng lại, nhưng trái tim của ông thì vẫn còn nguyên. Đây được coi là biểu tượng của lòng trắc ẩn, dẫn đến việc giới Phật tử suy tôn ông thành một vị Bồ Tát, làm tăng sức ảnh hưởng của vụ tự thiêu lên dư luận.

Hành động của Thích Quảng Đức đã làm tăng sức ép của quốc tế đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, dẫn tới việc tổng thống Diệm phải tuyên bố đưa ra một số cải cách nhằm xoa dịu giới Phật Tử. Tuy nhiên, những cải cách như đã hứa đó lại được thực hiện một cách chậm chạp hoặc không hề được thực hiện, khiến tình hình càng trở nên xấu hơn. Khi phong trào phản kháng vẫn tiếp tục dâng cao, Lực lượng đặc biệt trung thành với cố vấn Ngô Đình Nhu, em trai tổng thống, đã tiến hành nhiều cuộc tấn công bố ráp chùa chiền trên cả nước, lấy được trái tim của Thích Quảng Đức, và gây ra những vụ tàn sát quy mô lớn. Một số nhà sư khác cũng đã tự thiêu theo gương Thích Quảng Đức. Cuối cùng, cuộc đảo chính quân sự vào tháng 11 đã lật đổ chính quyền và giết chết anh em Ngô Đình Diệm. Hành động tự thiêu của Thích Quảng Đức được coi như một bước ngoặc trong cuộc khủng hoảng Phật Giáo Việt Nam, dẫn tới việc xóa bỏ nền Đệ nhất Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam.

Những bản báo cáo về cuộc đời của Thích Quảng Đức được lấy từ những thông tin lưu truyền bởi các tổ chức Phật Giáo. Theo đó thì ông sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, thuộc miền Trung Việt Nam, trong một gia đình có bảy anh chị em, thân phụ là Lâm Hữu Ứng và mẫu thân là Nguyễn Thị Nương. Năm lên bảy tuổi, cậu bé Lâm Văn Tức xuất gia tu học với hòa thượng Thích Hoằng Thâm, vừa là thầy bổn sư, vừa là cậu ruột. Cậu được hòa thượng Hoằng Thâm nhận làm con chính thức, nên lấy tên là Nguyễn Văn Khiết. Năm mười lăm tuổi Lâm Văn Tức thọ giới Sa Di, năm hai mươi tuổi thọ Tỳ Kheo giới lấy tên là Thích Quảng Đức. Thọ giới xong hòa thượng vào một ngọn núi ở Ninh Hòa phát nguyện tịnh tu ba năm, về sau ông đã trở lại ngọn núi này để thành lập một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc.

Sau quãng thời gian sống biệt lập, ông bắt đầu du hành khắp miền Trung để giảng pháp. Sau 2 năm ông trở lại nhập thất tại chùa Sắc Tứ Thiên gần thành phố Nha Trang. Năm 1932, ông được bổ nhiệm làm chức kiểm tăng tại chi hội Phật giáo Ninh Hòa, sau đó nhận nhiệm vụ kiểm tăng trong tỉnh Khánh Hòa. Trong suốt thời gian ở miền Trung Việt Nam, ông đã tiến hành kiến tạo và trùng tu 14 ngôi chùa. Năm 1934, rời Khánh Hòa vào miền Nam để giáo hóa, ông cũng từng đến Campuchia hai năm để học hỏi và nghiên cứu kinh điển theo truyền thống Theravada. Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, ông đã khai sơn và trùng tu 17 ngôi chùa. Như vậy, ông đã có công xây dựng hoặc trùng tu tất cả 31 ngôi chùa. Ngôi chùa cuối cùng là nơi ông trụ trì là chùa Quan Thế Âm ở quận Phú Nhuận, Gia Định, nay con đường này đã đổi thành chính tên của ông là Thích Quảng Đức. Ông đã từng giữ chức vụ Phó trị sự và Trưởng ban nghi lễ của Giáo hội Tăng Già Nam Việt trong một thời gian khá lâu. Trước đó, ông có lúc đã nhận nhiệm vụ trụ trì chùa Phước Hòa, trụ sở đầu tiên của Hội Phật Học Nam Việt. Khi trụ sở này đời về chùa Xá Lợi, ông xin thôi việc để có đủ thời gian an tâm tu niệm…

… Ngày 10 tháng 6, 1963 phát ngôn viên của giới Phật tử tiết lộ cho các nhà báo Mỹ biết rằng "một cái gì đó quan trọng" sẽ xảy ra sáng hôm sau bên ngoài đại sứ quán Campuchia ở Sài Gòn. Phần lớn phóng viên đều không đếm xỉa đến lời nhắn và ngày hôm sau, rất ít nhà báo xuất hiện. Trong số đó có David Halberstam của tờ New York Times và Malcolm Browne, lúc đó đang làm trưởng đại diện hãng thông tấn AP tại Sài Gòn.

Thích Quảng Đức xuất hiện trong một đám diễn hành bắt đầu từ một ngôi chùa gần đó. Khoảng 350 hòa thượng và ni cô dẫn đầu bởi một chiếc Austin Westminster chia làm hai nhánh giương cao khẩu hiệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Họ lên án chính quyền Ngô Đình Diệm vì chính sách kỳ thị Phật giáo và đòi bình đẳng tôn giáo. Ý định tự thiêu đã xuất hiện ở một nhà sư nhưng cuối cùng hòa thượng Thích Quảng Đức mới là người thực hiện.
 

(Xe Austin mà Thầy Thích Quảng Đức dùng để đến nơi tự thiêu nay được trưng bày tại chùa
Thiên Mụ ở Huế.)
Sự việc diễn ra tại ngã tư đại lộ Phan Đình Phùng và phố Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư phố Nguyễn Đình Chiểu và đường Cách mạng tháng Tám). Thích Quảng Đức đi ra từ chiếc ô tô cùng với hai nhà sư khác. Một người đặt một tấm nệm xuống đường còn người kia mở cabin xe và lấy ra một bình xăng dung tích 5 gallon. Vì đoàn diễn hành đang tạo thành nhiều lớp vòng tròn xung quanh mình, Thích Quảng Đức bình tĩnh ngồi thiền trên tấm đệm. Hai nhà sư cùng đi bắt đầu trút xăng lên đầu ông. Thích Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm: "Nam Mô A Di Đà Phật" trước khi tự tay châm lửa bằng diêm. Lửa nhanh chóng thiêu rụi áo cà sa và da thịt của vị hòa thượng, khói đen bốc lên từ cơ thể đang cháy bùng của ông.

Sau đây là trích toàn văn lời tâm nguyện của Hòa Thượng Thích Quảng Đức trước lúc tự thiêu:
“    Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì Chùa Quán Âm Phú Nhuận (Gia Định).
Nhận thấy Phật giáo nước nhà đương lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.
Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau:

1.    Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
2.    Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường cửu bất diệt.
3.    Mong nhờ hồng ân chư Phật gia hộ cho chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ gian ác.
4.    Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.
Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo.

Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật
Làm tại chùa Ấn Quang, ngày mùng 8 tháng 4 nhuần năm Quý Mão
Tỳ kheo Thích Quảng Đức
Kính bạch  

Phóng viên David Halberstam viết trên tờ New York Times:

“    I was to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was the smell of burning human flesh; human beings burn surprisingly quickly. Behind me I could hear the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to even think.... As he burned he never moved a muscle, never uttered a sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people around him.    ”

    Tạm dịch:

“    Tôi lại thấy cảnh đó thêm lần nữa, nhưng một lần là đủ lắm rồi. Ngọn lửa phun ra từ một con người; thân thể ông cháy héo khô dần và teo nhăn lại, đầu của ông đen dần và hóa than. Trong không khí thoảng mùi cháy khét của thịt người; loài người có thể cháy nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Từ phía sau tôi có thể nghe tiếng thổn thức của những người Việt giờ đang tụ tập. Tôi đã quá sốc để khóc, quá bối rối để ghi chép hay đặt câu hỏi, quá ngỡ ngàng để cả suy nghĩ ... Khi cháy, ông ấy không hề cử động một cơ bắp nào, không hề bật ra một âm thanh nào, sự điềm tĩnh của ông thật trái ngược với cảnh những người đang rền rĩ khóc than xung quanh.    ”

Cảnh sát đã cố ngăn vụ tự thiêu nhưng không thể xuyên qua được đám đông Phật tử đang vây quanh Thích Quảng Đức. Một cảnh sát phi mình vào và phủ phục trước hòa thượng nhằm tỏ lòng kính trọng. Những người chứng kiến phần lớn sửng sốt trong yên lặng, số khác thì khóc thét và bắt đầu cầu nguyện. Nhiều nhà sư và ni cô cũng như người qua đường vì quá bàng hoàng đã quỳ lạy trước vị hòa thượng đang cháy bừng. Một nhà sư tuyên bố nhiều lần qua một micrô bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt: "Một nhà sư đã tự thiêu. Một nhà sư đã trở thành con người tử vì đạo".

Chừng 10 phút sau thì lửa tàn, Thích Quảng Đức đổ gục xuống đường. Một nhóm sư sãi đã bọc thi hài ông bằng áo cà sa vàng và đặt vào một chiếc áo quan bằng gỗ, nhưng không thể gập được tứ chi cho vừa khít. Một cánh tay của Thích Quảng Đức thò ra ngoài trong lúc áo quan được chở đến chùa Xá Lợi gần đó. Lúc 13:30, khoảng 1000 nhà sư tập trung trong chùa để họp trong khi bên ngoài, đám đông sinh viên ủng hộ Phật giáo tập trung giương biểu ngữ: "Một hòa thượng đã tự thiêu vì 5 yêu cầu của chúng tôi" và dàn thành hàng rào xung quanh ngôi chùa. Cuộc họp nhanh chóng kết thúc và các nhà sư quay trở lại ngã tư nơi Thích Quảng Đức tự thiêu. Khoảng 18:30, 30 ni cô và 6 nhà sư đã bị bắt vì tội tổ chức cầu nguyện trên phố bên ngoài chùa Xá Lợi. Cảnh sát lúc đó đã bao vây ngôi chùa và chặn đứng sự tiếp xúc với bên ngoài. Những người chứng kiến cảm thấy rằng một cuộc đàn áp vũ trang sắp xảy ra. Chiều ngày hôm đó, hàng nghìn người dân Sài Gòn khẳng định rằng họ đã thấy ảo cảnh trên trời như khuôn mặt Đức Phật. Họ cho rằng Phật Tổ đang nhỏ lệ.

15 tháng 6, 1963 được chọn làm ngày tổ chức lễ tang cho Thích Quảng Đức. Ngày hôm đó đã có hơn 4.000 người tập trung bên ngoài chùa Xá Lợi nhưng buổi lễ lại bị hoãn. Đến ngày 19, linh cữu của hòa thượng được chở đến một nghĩa trang cách trung tâm thành phố 16 km (10 dặm) về phía Nam để hỏa táng lại. Theo như bản thông cáo chung vừa được ký kết trước đó vài ngày trong đó có sự đồng thuận giữa các chức sắc Phật giáo và cảnh sát thì số người tham dự lễ tang được giới hạn khoảng 400 người.
Tuy thi hài Thích Quảng Đức đã được hỏa táng lại nhưng trái tim của ông thì không cháy và vẫn còn nguyên, về sau được đặt trên một cốc rượu lễ bằng thủy tinh tại chùa Xá Lợi. Giới Phật tử coi đây là một điều thiêng, một biểu tượng của lòng trắc ẩn và suy tôn ông thành một vị Bồ tát…

Sau vụ Thích Quảng Đức tự thiêu, phía Hoa Kỳ gia tăng sức ép buộc Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục thương lượng và hòa giải với phía Phật giáo. Lúc 11:30 ngày 11 tháng 6,1963 Tổng thống Diệm triệu tập nội các để họp khẩn cấp bàn về vấn đề khủng hoảng Phật giáo. Thế nhưng sau cái chết của Thích Quảng Đức, ông đã hủy cuộc họp và gặp riêng với các bộ trưởng của mình. Đại sứ Mỹ William Trueheart đã cảnh báo Nguyễn Đình Thuận, thư ký của Diệm, rằng tình hình hiện rất nhạy cảm và đặt hy vọng tổng thống sẽ sớm đáp ứng những yêu sách của giới Phật tử. Tại Mỹ, ngoại trưởng Dean Rusk cũng cảnh báo đại sứ quán Sài Gòn rằng Nhà Trắng sẽ công khai công bố bản yêu sách đó "tự nó sẽ không liên quan" gì đến chính quyền nếu sự việc đã không xảy ra. Bản thông cáo chung có ý nhượng bộ Phật tử được ký ngày 16 tháng 6.
 
Tổng thống Mỹ John F. Kennedy nói rằng "không có một bức hình thời sự nào trong lịch sử lại gây nên nhiều xúc cảm trên khắp thế giới như vậy".

Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, người đứng đầu chính phủ đồng minh với Việt Nam Cộng hòa, biết được thông tin về vụ một nhà sư tự thiêu tại Nam Việt Nam khi đọc báo tin tức buổi sáng, trong khi ông đang ngồi trên giường và nói chuyện với em trai Robert F. Kennedy, viên chưởng lý Hoa Kỳ. Tổng thống đã cắt ngang cuộc đàm thoại về tình hình tại bang Alabama và thốt lên: "Lạy Chúa Giê-su!". Về sau ông nhận xét rằng "trong lịch sử không có một bức hình thời sự nào lại gây nên nhiều xúc cảm trên khắp thế giới như vậy". Thượng nghị sĩ Frank Church, thành viên Ủy ban Quan hệ Quốc tế, đã phát biểu: "Người ta chưa từng chứng kiến những cảnh tượng hãi hùng như thế này kể từ khi các vị thánh tử vì đạo dắt tay nhau vào đấu trường La Mã nộp mình"…

…Những bức ảnh của Browne chụp cảnh tự thiêu nhanh chóng truyền đi bằng các phương tiện điện tín và lên trang nhất của nhiều tờ báo khắp thế giới. Việc một hòa thượng tự thiêu tại một đất nước mà phần đông dân số theo đạo Phật đã được ghi nhận là bước ngoặc trong cuộc khủng hoảng Phật giáo và dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặc dù sự suy yếu của chính phủ bắt đầu lộ rõ từ trước nhưng vụ việc vẫn được coi là bước then chốt trong tình hình hỗn loạn lúc bấy giờ. Nhà sử học Seth Jacobs khẳng định Thích Quảng Đức đã "đốt cuộc thử nghiệm Diệm của nước Mỹ ra tro" và "không có lời bào chữa nào có thể gỡ gạc lại được danh tiếng của Ngô Đình Diệm" một khi những bức ảnh của Browne đã hằn vào tâm trí của công chúng thế giới. Ellen Hammer mô tả rằng sự kiện đã gợi lên những hình ảnh đen tối về sự đàn áp và ghê rợn, tương ứng với một thực tại rất châu Á mà người phương Tây vốn không hiểu".. William Colby, giám đốc CIA vùng Viễn Đông cho rằng Ngô Đình Diệm "đã xử trí cuộc khủng hoảng rất dở và đã để cho nó tiến triển. Nhưng thực sự tôi không nghĩ rằng có nhiều cơ hội để họ giải quyết vấn đề một khi đã có một thầy tu tự thiêu"…
 
(Tấm ảnh của nhà báo Malcolm Browne chụp Thích Quảng Ðức tự thiêu. Một bức ảnh tương tự đã được trao "Ảnh báo chí của năm" vào năm 1963).

…Tấm ảnh đoạt giải của Browne đã được giới truyền thông đại chúng sử dụng lại trong nhiều thập niên. Năm 1992, ban nhạc rock Rage Against the Machine sử dụng một tấm ảnh làm bìa cho album và đĩa đơn đầu tay của họ. Trong tập 408 bộ phim hoạt hình South Park, "Chef Goes Nanners", nhân vật Chef đã dùng đến tấm ảnh tự thiêu của Browne trước khi đổ xăng và đốt cháy một nhà sư để phản kháng lại lá cờ phân biệt chủng tộc của thị trấn."...

Chúng tôi vừa trích đoạn nguyên-văn của trang báo điện-tử “Wikipedia” như vừa lật lại trang sách lịch-sử về Thượng-Tọa Thích-Quảng-Đức mà người đời đã ghi lại.  Không thể ngăn được những giòng lệ hôm nay; về một Việt-Nam với bao cảnh đoạn- trường, gian-truân, khổ-ải; về một tấm gương tự-thiêu vì Đạo của một vị chân tu mà chúng tôi hằng tôn-sùng, thờ-kính.  Nguyện xin Thầy phù-hộ cho chúng-sinh ai cũng được tinh-tấn vững vàng trên con đường giải-thoát những nghiệp-chướng trong đời trầm-luân hôm nay.  

Tôi dựt mình nhớ ra rằng trong bộ phim Vidéo tài-liệu “Những Ngôi Nhà Thờ Cổ Bắc, Trung, Nam - Việt-Nam do cá-nhân tôi dày công thực-hiện từ năm 2000; cũng đã được ghi lại hình ảnh nhà Thờ Phan-Xi-Cô Xaviê, tức nhà Thờ Cha-Tam (một trong bảy họ chính của Thiên-Chúa-Giáo thuộc vùng Chợ-Quán, Saigon).  Nơi đó còn nguyên di-tích năm xưa khi Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm (là Thủ-Tướng cuối cùng của Quốc-Gia-Việt-Nam và là Tổng-Thống đầu tiên của chế-độ Việt-Nam-Cộng-Hòa), ông và bào-đệ là Ngô-Đình-Nhu;  hai người đã ngồi cầu-nguyện lần cuối cùng trên một dãy ghế trong nhà Thờ Cha-Tam trước khi bị dẫn đi vào xe bít bùng và bị bắn chết sau biến cố 1963.  Tất cả dãy ghế trong nhà Thờ Cha-Tam đã thay mới chỉ trừ dãy ghế này là còn giữ nguyên vẹn. (*)

Trích đoạn từ nguồn “Wikipedia”:

“… Cùng với việc chống Cộng Sản không đạt được kết quả và không ổn định được sự mâu thuẫn tôn giáo được xem là nguyên nhân dẫn tới sự mất uy tín trầm trọng của ông Ngô-Đình-Diệm và chính quyền của ông trước Hoa Kỳ. Sự kiện Phật Đản, 1963 xảy ra là giọt nước tràn ly dẫn tới chính phủ Kennedy bỏ rơi Ngô Đình Diệm và khuyến khích đảo chính để lật đổ chế độ độc tài đã đưa miền Nam đến tình trạng hỗn loạn. Cuộc đảo chính diễn ra vào lúc 11h30 ngày 01 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đã chiếm dinh tổng thống, ông và Ngô Đình Nhu trốn ra khỏi dinh và về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam - Chợ Lớn…”

Quả thật, khi phải đối diện với thực-tế trong những giai-đoạn bi-thương của lịch-sử Việt-Nam.  Ai trong chúng ta tâm-trí không khỏi bàng-hoàng, giao-động cho những nghiệt-ngã của số phận con người?
Chúng tôi chợt nhớ đến những bài giảng giản-dị và dễ hiểu của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma về phép hành-trì Lo-Jong của Phật-Giáo Tây-Tạng.  Để con người được chuyển hóa tâm-thức sâu xa, sống thoải-mái an-nhiên, cho dù căn-nghiệp có nặng nề hay đang gặp những hoàn-cảnh khó-khăn.  Tâm thức, tâm-trí chính là vị thần-linh có quyền năng số một đối với con người.  Trong mùa Vu-Lan 2011.  Xin gửi đến độc-giả lời Bụt dạy trong “Kinh Pháp Cú” như sau:

“Vạn Pháp Do Tâm Khởi. Tâm Làm Chủ Và Tâm Dẫn Dắt. Khi Tâm Con Thanh-Tịnh. Ngôn Cũng Như Hành.  Sẽ Thấm-Thuần An-Lạc. Và Như Bóng Theo Hình.  An-Lạc Sẽ Theo Con.”

Tác-giả: Chân-Quê viết trong hồi-ký trên bước đường chia-xẻ tình-thương tại Việt-Nam.

(*) Quý độc-giả có thể xem lại di-tích dãy ghế trong nhà Thờ Cha-Tam còn giữ nguyên vẹn; nơi cố Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm và bào-đệ là Ngô-Đình-Nhu cầu-nguyện lần cuối cùng trước khi hai người bị giải đi và bị bắn chết trên trang báo điện-tử toàn-cầu này: www.diamondbichngoc.com. “Click” vào mục: “Vidéo: Những Ngôi Nhà Thờ Cổ Việt-Nam”: Miền Nam. Nhà Thờ Cha-Tam (Số 7).

TÀI-LIỆU THÁNG 7, 2011:

GIỮA CHỢ ĐỜI!


                                                                                Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc.


Âu cũng là một phước duyên cho chúng tôi trong những kỳ nghỉ Hè được về thăm lại quê-hương, chia xẻ đến những kẻ khó khăn, tất bạt; họ vẫn ngày ngày sống trôi dạt bên đời gian nan vô cùng vất vả.  Từ những trẻ em làng quê, người già cơ-nhỡ vùng đất Bắc xa xôi; đến các sinh-viên nghèo hiếu học được chúng tôi trao tặng học-bổng trong miền Nam và như mọi lần, không quên trao chút quà đến các thương-phế-binh Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa tận trong các hang cùng, ngõ hẹp.

Vẫn biết Việt-Nam hôm nay có biết bao điều trái-nghịch: kẻ giàu - người nghèo quá cách biệt.  Điềm Lành, sự Dữ như sáng, trưa, chiều, tối tuần-tự luân-phiên nhau tiếp diễn.  Trong cái khó nghèo nẩy sinh tình-nghĩa và cũng trùng trùng sự lừa lọc, gian-tham.  Giữa sang-giàu, tiền-của là sân-si của tội-lỗi, xa-đọa trầm-luân và hủy-diệt.  Chúng tôi trở về đây giữa triệu triệu nhân sinh đang hăm hở, hối hả sống trong cảnh chen chúc mưu-sinh, khói bụi xe cộ ngất Trời và nạn nhân-mãn ngày càng gia-tăng trầm-trọng.  

Tôi nhớ đến ánh mắt của những đứa trẻ ở bãi biển Vũng-Tàu trong một quán ăn buổi sáng.  Hai anh em sà đến bàn chúng tôi kỳ-kèo:

“Cô ơi! Mua cho con tấm dzé số đi cô!”

Chúng đã lê-la khắp mọi quán và đều bị xua đuổi một cách vô-tình.  Những hình-ảnh này đã quá quen thuộc từ năm đầu tiên; 1999 khi tôi trở về Việt-Nam làm phim tài-liệu đi từ Bắc chí Nam, đến tỉnh nào cũng gặp những trẻ em dạng này.  Lang bạt, kỳ-hồ giữa chợ đờì mưu-sinh (kiếm sống).  Lần đầu tiên gặp chúng, tôi cố nuốt không trôi phần ăn trước mặt và bối rối không biết xử trí ra sao.  Nhưng bây giờ, hơn mười năm sau với bao nhiêu là kinh-nghiệm, tôi đã rất bình-tĩnh và vui vẻ hỏi chuyện:

“Các con tên gì?  Bao nhiêu tuổi? Có đói bụng hông?  ngồi xuống ăn sáng với gia-đình cô nhe!”

Chúng dạ thật to, liền sau đó một cậu bé khác độ 10 tuổi xin nhập bọn. Thằng em dơ tay (như trong lớp học) xin rằng:

“Cô cho con ăn hủ-tíu nhe cô!”

Tôi vừa gật đầu xong thì thằng anh lanh miệng xin liền:

“Còn con cho xin đĩa cơm gà được hông cô?”

“Con nữa!  Cho con đĩa cơm sườn cô ơi!”


 (Hai anh em bé Vũ bán vé số ở bãi trước Vũng-Tàu).

Tôi nhìn chúng vừa thương-tâm, vừa buồn cười trước những ánh mắt thơ dại và kêu bồi bàn dọn thức ăn cho chúng.  Một chị trong quán ăn vừa lau bàn vừa chỉ từng đứa giới thiệu:

“Thằng nhỏ này tên Tài, 10 tuổi.  Cha bị xe đụng chết, Mẹ bỏ đi lấy chồng khác.  Nó ở với Bà nên đi bán vé số kiếm chút đỉnh.”


(Bé Tài, 10 tuổi bán vé số ở Vũng-Tàu với khuôn mặt rạng rỡ khi được ăn cơm sườn!)

Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu bé hỏi:

“Con ở một mình với Bà hả?”

Nó thành-thật trả lời:

“Dạ! Lúc trước ở với chú của con nữa.  Giờ chú con vào tù rồi!”

“Sao dzậy?” Tôi hỏi lại liền.  Nó bảo:

“Tại chú con là du-đãng, đi quýnh lộn dzới người ta nên bị công-an bắt.”


Tôi lại hỏi:

“Chú con tên gì?”

“Dạ! Tên Đen”.

Tôi dựt bắn mình; vì năm năm trước cũng tại quán này một thằng bé mang cái tên “Đen” rất lạ.  Người nhỏ thó, lủi thủi vào đây bán vé số, chúng tôi cũng cho nó ăn uống như thế này.  Thằng bé Tài hồn nhiên kể:

“Cô biết hông?  Hồi trước chú con cũng đi bán dzé số như con đó!”


Thôi đúng rồi!  Không thể nào lầm được.  Thức ăn dọn ra, tôi âm thầm nhìn cách chúng ăn uống.  Ngồi đối diện với tôi là hai anh em thằng bé Vũ 10 tuổi.  Đứa anh dùng đũa đút phở cho đứa em 5 tuổi vì nó còn quá bé.  Lạ thật!  khi so sánh với những trẻ con của các gia-đình giàu có.  Mạnh ai nấy lo, đâu có cảnh thằng anh đút cho đứa em ăn như thế này.

 

(Hai anh-em bé Vũ bụi đời bán vé số ở bãi trước Vũng-Tàu.)

Trước khi từ-giã, tôi mua cho chúng hơn mười tấm vé số để cho người tài-xế đang đợi ngoài kia, cậu ta không dám vào ngồi cùng bàn ăn uống dù tôi đã hết sức kêu mời.  Chúng tôi nửa đùa, nửa thật hỏi mấy bé:

“Nè! Cô vừa mua vé số xong, mỗi tờ là 10 ngàn đồng.  Bây giờ muốn bán lại hết cho mấy đứa nhưng mỗi tờ chỉ với giá 5 ngàn thôi.  Tức là nửa giá, bé nào mua lại không?”

Chúng nhíu mày suy-nghĩ đôi chút rồi lắc đầu quầy-quậy và cầm khư khư số tiền kiếm được trong tay.  Điều này chứng tỏ rằng những tờ vé số ấy vô cùng khó khăn để đánh đổi thành tiền.

Trước khi từ-giã chúng, tôi bảo:

“Nè! Các con.  Dù có nghèo hèn đến đâu cũng cố gắng sống thiện, sống tốt.  Không ăn trộm, ăn cắp.  Không trở thành du-đãng như chú con nhe chưa!”

Chúng vừa dạ nhỏ vừa ăn-uống say mê.  Tôi bước đi lòng bỗng trùng đau quặn-thắt.  Nỗi đau dành cho từng thế-hệ trẻ trôi qua mà tôi đang là một nhân-chứng thực-thể.  Đời thằng Đen mịt mù trong tù-ngục.  Rồi đời thằng Vũ, đứa em bé nhỏ của nó và thằng Tài sẽ ra sao trong mười năm tới nữa?  Bi thương quá; những đứa trẻ giữa chợ đời Việt-Nam hôm nay.

Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc; viết trong hồi-ký trên bước đường chia-xẻ tình-thương những năm tháng dài tại Việt-Nam.


TÀI-LIỆU THÁNG 6, 2011: 



MẸ CẢM-ƠN CON.

                                                        Bà Mẹ “Chân-Quê”.

Niên-khóa cuối cùng của lớp 12 gần hết.  Con vừa tham-dự tiệc “Prom” tại một Reception Hall sang trọng thành-phố cảng Long-Beach, California. USA.  Mẹ cảm-ơn con:

•    Đã tin-tưởng giao Mẹ chọn giầy, ví, áo dạ-hội trẻ trung nhưng trang nhã cho con.  Để Mẹ dạy con cách “make-up” không lòe-loẹt, mà rất nhẹ-nhàng trên làn da trinh-nguyên của con.  Cho Mẹ đưa đón con đến nhà cô bạn giòng họ triệu-phú vùng Orange-Hill bằng chiếc xe SUV tầm-thường của Mẹ.  Rồi sau đó có Limousine sang trọng đón con và các bạn đi dự tiệc đến 4 giờ sáng, nhất là con vẫn không quên gửi những lời nhắn trên phone (Text) cho Mẹ biết để Mẹ an-tâm khi con vui chơi qua đêm như vậy với các bạn.
•    Đã mang khoe Mẹ bằng khen toàn trường “National Merit Award for Out Standing Scholastic Achievement” và “Top Ten Award” của trung-học Mater Dei (Santa Ana) dành cho con.
•    Đã thi đậu vào các đại-học danh tiếng tại Hoa-Kỳ.
•    Đã vui vẻ nhận lời đi giúp người già, các trẻ em tàn tật khó nghèo ngoài xứ Bắc xa xôi trong kỳ nghỉ hè này cùng Mẹ và các Soeur Dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái”.
•    Đã xin Mẹ chỉ dạy con cách nấu nướng để con có thể tự-túc những ngày tháng dài ở trong nội-trú (Dorm) thuộc trường đại-học Stanford và sau này có thể lo cơm nước cho tiểu gia-đình của con mà không phải lệ-thuộc vào “Food Togo” và tránh những “Junk Food” độc hại.
•    Đã chịu khó ăn trái cây tươi do chính tay Mẹ gọt rửa mang đến cho con mỗi ngày sau giờ tan trường và uống nhiều nước lạnh, không uống Soda.
•    Nhất là con đã đồng-ý cho Mẹ chỉ dạy con từng bước một về cách chùi rửa phòng tắm, nhà vệ-sinh (Toilet) bằng chính đôi bàn tay bé nhỏ của con; những căn-bản nhất cho sức khỏe của một đời người.  (Có lần Mẹ đã kể cho con nghe uớc mơ của Mẹ từ những năm 1999 là treo giải-thưởng “Làm Sạch, Đẹp Nhà Vệ-Sinh Việt-Nam” vì khi Mẹ về trong nước đi từ Bắc chí Nam làm phim phóng-sự.  Nơi đó không có phòng vệ-sinh công-cộng, người dân mình đi đại trong đám cây, bụi cỏ.  Nhà dân ở thì phòng khách họ giữ gìn đẹp nhất mà nhà vệ-sinh thì cực-kỳ dơ bẩn.  Họ đã không biết rằng bệnh-tật sinh-sôi nẩy-nở từ chỗ này).  Con sẽ theo học ngành y-khoa thì con cũng hiểu việc “ăn uống” và “tiêu-hóa” đều quan-trọng như nhau.
•    Mẹ cảm-ơn con trong tháng 7 năm 2009, lúc theo học khóa hè 7 tuần ở đại-học Harvard con đã biết chỉ cho các bạn ở cùng phòng (Roommate) cách giặt và sấy khăn trải giường, áo gối, quần áo khi ở trong “Dorm”.  (Thật đáng yêu khi những đứa trẻ con nhà giàu ở Mỹ đã biết từ chối những dịch-vụ thuê người lau dọn, giặt giũ mà muốn tự-thân, tự-túc.)
•    Mẹ cảm-ơn con đã từ chối lời đề-nghị của Mẹ sẽ mua Ipad tặng con vì con bảo với Mẹ rằng con không có nhu-cầu này.

Mẹ cảm-ơn con đã chỉ cho Mẹ nhiều điều suy-nghĩ trong đầu của các bạn trẻ Việt-Nam mà bậc làm phụ-huynh như Mẹ không bao giờ biết được qua những tiếng lóng để gọi người Việt-Nam mình là “FOB” (Fresh Of the Boat). Ý-chỉ những thuyền-nhân tỵ-nạn chưa hội-nhập được văn-minh xứ người.  Những chữ: “Twinkie” hoặc “Banana” (vỏ ngoài vàng, trong ruột màu trắng) nhằm chỉ các bạn gốc người Việt-Nam da vàng mũi tẹt nhưng luôn tự nhận mình là Mỹ trắng.

Mẹ đã dựt mình khi nghe con kể rằng bạn con than-phiền về các gia-đình Việt-Nam “FOB” tổ-chức sinh-nhật cho con mình mà chỉ mời bạn bè của Bố-Mẹ.  Trong suốt bữa tiệc bạn của Bố-Mẹ ăn nhậu tưng bừng, xong họ kéo nhau vào phòng khách hát “Karaoke” hoặc mướn “One Man Band” để “Hát Cho Nhau Nghe” mà không cần biết “Birthday Girl” hoặc “Birthday Boy” là ai!  Vì thế đám con trẻ đã kéo nhau đi chỗ khác để tập uống bia, rượu, hút thuốc lá, nhảy nhót tìm vui.

Mẹ cảm-ơn con đã rất trầm-tĩnh vì khi yên-lặng, ít nói là lúc con lắng nghe được nhiều nhất trong mọi nơi, mọi lúc.

Còn rất nhiều điều để viết không sao kể xiết, nhưng niềm hạnh-phúc nhất của Mẹ là con biết mỗi ngày cầu-nguyện Ơn Trời cho chúng ta có được những gì đến ngày hôm nay và con biết sống trong tình bác-ái từ tâm với mọi người.  

Mẹ cảm-ơn bé con yêu-thương của Mẹ.

                              Bà Mẹ “Chân-Quê”
                             (Viết trong mùa Lễ Ra Trường California tháng 5, 2011).


TÀI-LIỆU THÁNG 5, 2011:
Mẹ Của Tôi.

                                                                      Diamond Bích-Ngọc.

Tôi được nghe Mẹ kể rằng vào năm 1954, sau hiệp-định Genève chia đôi nước Việt-Nam thành hai miền Nam-Bắc ngay tại vĩ-tuyến 17.  (Nơi có cây cầu Hiền-Lương bắc ngang giòng sông Bến-Hải, ngăn hai tỉnh Quảng-Trị và Quảng-Bình), Mẹ đã khăn gói theo Bố tôi đi bằng “Tàu Há Mồm” di-cư vào Nam  rời Bắc Việt, vì vậy mà tôi được sinh ra và lớn lên trong miền Nam Việt-Nam, được sống sung sướng như một đứa trẻ “Đẻ Bọc Điều”.

Sau này lớn lên, có ý thức tôi mới biết được cái “Bọc Điều” đó nằm trong bụng của Mẹ với bao nhiêu là gian-truân, đoạn trường… Vì cả chục năm sau ngày di-cư vào Nam, Bố Mẹ đều trắng tay làm lại từ đầu nơi đất khách quê người (dù cùng trên một mảnh đất quốc Tổ, nhưng khác phong-thổ, khác giọng nói, lại bị kỳ-thị bởi những người cùng màu da, cùng giòng máu, giữa “Bắc-Kỳ” và “Nam Kỳ”, giữa “Công-Giáo” và “Phật-Giáo”… Mẹ phải “buôn thúng, bán bưng”, Bố phải đi làm công cho người ta.  Cho đến khi có người quen, biết Bố tôi có trình độ học vấn và thông thạo tiếng Pháp, giới thiệu ông vào làm ở “Bộ Nội Vụ”.  Từ đó Mẹ của Tôi thôi vất vả, nhọc nhằn, đó cũng là lý-do Bố Mẹ buộc chúng tôi phải chăm lo học hành, vì trong bất cứ hoàn cảnh nào, những mảnh bằng vô-tri đôi khi lại là cứu cánh cho cuộc sống.

Năm tôi lên tám tuổi, có lần đang chơi trước sân nhà, chị người làm quên khóa cổng, tôi thấy một ông cụ già ốm yếu, tóc bạc phơ, đầu đội cái nón lá rách bươm, tay run rẩy cầm một ống “loong Guy-Gô” đứng xin ăn.  Tôi bàng hoàng co rúm cả người, đó là lần đầu tiên trong đời tôi được thấy “ăn mày” bằng xương, bằng thịt.  Tôi còn nhớ mình thu hết can đảm nói lớn:

“- Ông, ông… là ai?  Ông cần gì?

Giọng ông yếu ớt:

“- Cô Chủ cho ông xin chút cơm thừa, ông đói lắm…!!!”

Không hiểu sao tôi hết sợ, thấy thương ông quá và có cảm tình với ông ngay, tôi đi đến gần ông, rồi bảo:

“Ông đợi con một tí nhe!”

Tôi chạy nhanh vào nhà bếp, lấy một cái bao ni-lông bới đầy cơm, hôm đó chị Ba nấu thịt kho tàu với trứng, tôi trút cả vào bao.  Xong, chạy lên lầu, tôi vào phòng tìm con heo đất.  nơi mà tôi dành dụm tất cả tiền Mẹ cho mỗi khi được “Bảng Danh Dự” đầu tháng nhờ điểm cao nhất lớp, đập ống, được bao nhiêu tôi nhét vội vào túi rồi chạy xuống sân nhà.  Ông cụ già vẫn run rẩy đứng đó.  Tôi trân trọng đưa cho ông bao cơm và một đống tiền.  Ông cụ bật khóc khi thấy tôi ngây-thơ nói:

“- Con biếu ông nè!” Rồi ngạc nhiên tôi hỏi: “- Ủa sao ông khóc?”…

Bỗng có tiếng la hét cãi cọ trong nhà, chị người làm tất tả chạy ra đóng cổng, ông lão biến đâu mất, một bà chị của tôi với khuôn mặt đằng đằng sát khí.  Chỉ thẳng vào mặt tôi, chị mắng:

“- Con Bé! Tại sao cho tiền ăn mày?  Còn dám lấy cơm và thức ăn cho nó nữa. Hừm!... Chị Ba đâu, tại sao hồi nãy không khóa cổng ???   Cái kiểu này mai mốt tụi nó sẽ kéo đến  cả làng, cả tổng xin ăn cho xem.  Có ngày nó bắt cóc con Bé không biết chừng… Trời ơi là Trời!!! …” Chị dậm chân than thở…

Tôi ấm ức òa ra khóc, lúc bấy giờ tôi chỉ sợ chị người làm bị mất việc vì chị tôi sẽ “méc” với Bố Mẹ tôi chuyện này.  Chị Ba cũng đứng khóc rưng rức…

Mẹ tôi bỗng xuất hiện, tôi chạy đến ôm chầm lấy Mẹ trong lúc chị tôi đang gân cổ kể lể sự tình.  Mẹ bỗng ôn tồn bảo:

“- Con không có lòng chia xẻ cho người nghèo, sao lại mắng em tàn nhẫn đến thế.  Em nó làm đúng.  Mẹ không bênh con Bé, con lo sợ em bị bắt cóc là điều tốt vì thương em.  Nhưng la hét với người ăn, người làm trong nhà như thế không phải tí nào.”

Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nó ám ảnh tôi cho đến ngày nay.  Vì đó là bài học đầu đời Mẹ dạy chúng tôi về lòng Từ-Bi, Bác Ái.  Mẹ đã ghi đậm trong trí não tôi như một tờ giấy trắng lúc bấy giờ, đó là: “Cái hành động tôi giúp ăn mày không phải là điều sai quấy”. Có lẽ nhờ vậy mà sau này tôi đã khấn hứa là được theo gót chân Mẹ Terésa (Calcutta) hầu chia xẻ đến những người khó nghèo, tất bạt.

 


Có một mùa Lễ Phật-Đản, Mẹ cho chị em chúng tôi và cả chị người làm lên Chùa cúng Phật, cũng nhằm để bố thí cho ăn mày rất đông lúc nào cũng trực sẵn trước cổng Chùa.  Tôi còn nhớ Mẹ giảng dậy cho chúng tôi nghe về những lối kiến trúc và bài vị trong Chùa, đó là:

 


“ Gian giữa của Chùa, tầng trên nhất thờ ba vị “Thế-Tôn”, đầu tóc xoăn như ốc bám, người xưa thường gọi là “Bụt Ốc”. Kế đó là bà “Mụ Thiện” có mười hai tay, rồi đến bà “Di-Lặc”.  Sau nữa là tượng “Quan-Âm”, có Kim-Đồng, Ngọc-Nữ kèm hầu đôi bên.  Một bên cưỡi con Bạch-Tượng, một bên cưỡi con Thanh-Sư. 



Rồi đến tượng “Ngọc- Hoàng”, một bên là Nam-Tào, một bên là Bắc-Đẩu.  Ngoài cùng có tượng “Cửu-Long” bằng đồng, có “Phật Thích-Ca” đứng giữa.

 


Hai bên phía trong Chùa, một bên thờ ông “Tu Xương” gầy khô như Hạc, một bên thờ bà “Thị-Kính” tay bế một đứa con, cạnh mình có con Vẹt đứng.  Theo tục truyền đó chính là “Thiện-Sĩ”, tên của chồng bà “Thị-Kính”, đã hóa thân thành con Vẹt.

Ở phía ngoài Chùa mỗi bên có năm ông “Bụt”, gọi là “Thập Điện La Hán”.  Hai gian cạnh gần gian giữa; một bên thờ tượng “Long-Thần”, mặt đỏ, mắt sắc; gọi là “Đức Ông” (cũng có nghĩa là Thổ Thần).  Một bên thờ thầy “Đường-Tăng”, có Đạo Thánh “Bát Giới” đứng hầu.  Hai gian ngoài của nhà Chùa có thờ hai tượng Hộ-Pháp; một tượng mặt mũi hiền lành, tay cầm quả ấn; một tượng mặt mũi dữ hơn, tay vác thanh gươm.

Còn đôi bên vách tường có họa hình; nào là “Thiên-Phủ” (Thiên-Đàng), có các nàng Tiên gẩy đàn thổi sáo vui vầy.  Nào là “Địa-Phủ” (Địa-Ngục), có “Diêm-Vương” hành tội những người chết, kẻ bị “Quỷ-Sứ” cưa đầu, kìm lưỡi, kẻ bị quẳng vào núi gươm đao.  Tùy theo cách sống của con người trên trần gian, khi nhắm mắt xuôi tay có người được lên Thiên-Đàng, hưởng sự sung sướng ngàn thu, có kẻ bị trầm luân nơi Địa-Ngục khổ ải, phải trải nếm đắng cay.

Ngoài cửa Chùa còn có cửa “Tam Quan” làm gác chuông. Sau Chùa có “Tĩnh” để thờ “Chư-Vị” và có nhà thờ “Tổ”.  Nhà thờ “Tổ” là nơi mà những Tăng-Ni tu hành, tận hiến lúc sinh thời, khi chết đi nhà Chùa tô tượng để thờ.  Lại có nhà “Hậu” để thờ những người mua hậu Chùa, cứ đến ngày giỗ, thì nhà Chùa phải cúng giỗ.

Sau Chùa có phòng riêng biệt lập, làm chỗ cho “Nhà Sư” ở, gọi là nơi “Trụ Trì”, người thường nam cũng như nữ hoặc trẻ con không ai được phép lai vãng đến gần chốn này.

Nhà “Phương-Trượng” dùng để tiếp các “Thí-Chủ” (Khách-Khứa) được xây cách riêng chỗ “Trụ Trì” của Nhà Sư.  Phía sau đó là nơi mộ-tháp của “Tăng-Ni”.  Chùa phải có Nhà Sư ở;  Sư nam gọi là “Tăng”, Sư nữ gọi là “Ni”.  Chùa nào không có Tăng, Ni thì có một thầy tu gọi là thầy “Già Lam” để coi việc đèn hương, cúng bái.”

Cũng mùa Lễ Phật-Đản năm đó. Tôi thấy chị tôi lần đầu tiên biết bố-thí cho ăn mày,  tôi nhớ rất rõ đôi mắt Mẹ sáng ngời long lanh ướt lệ, không biết vì khói hương nghi ngút trong Chùa hay Mẹ khóc vì sung sướng, cảm động khi thấy con mình biết lắng nghe và thực hành lời Mẹ dậy về lòng Nhân-Hậu, Từ-Bi trong cuộc sống.


                                                                                      Diamond Bích-Ngọc.


TÀI-LIỆU THÁNG 4, 2011: 
 
CÔNG CHÚA LIỄU-HẠNH.

                                                                    www.diamondbichngoc.com

Từ 1997 đến 2000.  Suốt ba năm liền tôi được Trời thương cho có điều-kiện đi về Việt-Nam làm phim tài-liệu.  Bước chân tôi đã ghi dấu trên từng phần đất quê-hương, từ mũi Cà-Mau rồi xuyên qua vĩ tuyến 17 (điểm ngăn đôi đất nước ta sau hiệp-định Geneve 20, tháng 7, 1954 bằng giòng sông Bến-Hải; cắt ngang hai tỉnh Quảng-Trị và Quảng-Bình) và tôi cũng đã đi tới Ải-Nam-Quan, miền địa đầu tổ-quốc Việt-Nam.

Trên con đường xuyên Việt; khi về quê Cha đất Tổ, tôi được ghé thăm nhiều Đền, Đình, Chùa, Miễu… Tham dự những sinh-hoạt cổ-truyền đầy dân-tộc tính, nói lên tất-cả ý-niệm thiêng-liêng tôn-giáo, nêu cao lòng biết ơn của người dân làng qua các thủ-tục lễ-nghi; nhằm tưởng nhớ những anh-hùng đất nước cũng như đối với các vị Thần linh.  Hội-Hè-Đình-Đám cũng là dịp để người dân quê quanh năm vất vả với công việc đồng áng, chân lấm tay bùn có dịp nghỉ ngơi, vui chơi, ca hát, ăn uống.  Hết lo lắng về đất nẻ ruộng khô, gió lạnh làm mạ lúa héo vàng, được hội-tụ cùng bạn bè thân-thuộc, Làng trên, Xã dưới, trong Thôn, ngoài Tổng. 

Một trong những quần-thể kiến-trúc mang đầy tính-chất tín-ngưỡng dân-gian ở miền Bắc Việt-Nam ta, đó là đền Phủ-Giày.  Xây tại xã Vân-Cát, huyện Vụ-Bản, tỉnh Nam-Định,  hằng năm nơi đây đều có mở hội từ mùng 1 đến hết ngày 10, tháng 3 (Âm-Lịch).  Năm nay, sẽ rơi vào tuần-lễ từ 3 đến 12, tháng 4, 2011 (Dương-Lịch).

                                                     Đền Phủ-Giày.  Nam-Định. Việt-Nam.

Đền Phủ-Giày để thờ Liễu-Hạnh Công-Chúa.  là một trong những vị thần vô cùng quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Mẫu Liễu-Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.
Liễu-Hạnh Công-Chúa được thờ ở rất nhiều nơi như phủ Giầy (Nam-Định), phủ Tây-Hồ và đền Sòng-Sơn-Vọng-Từ (Hà-Nội), đền Dâu-Tam-Điệp (Ninh-Bình), đền Sòng và đền Phố Cát (Thanh-Hóa), đền Phủ-Giày (Saigon) ... trong đó, Phủ Giầy ở Vụ-Bản Nam-Định, Bắc-Việt là nơi quan trọng nhất.
Truyện xưa, tích cũ ghi lại rằng: Nàng tên thật là Giáng-Tiên, ái-nữ của ông Lê-Thái-Công ngụ ở thôn An-Thái, xã Vân-Cát, huyện Vụ-Bản, tỉnh Nam-Định.  Vân-Cát là một làng văn-học, dân cư đông đúc, gần giáp với núi Gôi.  Nơi có ga xe lửa trên đường Hà-Nội đi Ninh-Bình.

Vào đời Hậu Lê (1557) có ông Lê-Thái-Công là một người nhân-đức, chuyên làm điều thiện.  Phu-nhân của ông mang thai nhưng thai đã quá tháng mà bà vẫn không sinh-hạ được, lại chỉ thích ngửi mùi hương hoa.  Một đêm vào tiết Trung-Thu, có một lão ông ăn mặc rách rưới xin vào nhà Lê-Thái-Công để trị bệnh cho phu-nhân.  Được chấp-thuận, người này rút ra trong tay áo một cây gậy bằng ngọc, ngửa mặt lên Trời lâm-râm tụng- niệm; sau đó lão ông quăng cây gậy vào người Thái-Công làm ông bất-tỉnh.  Cùng lúc ấy, trong buồng phu-nhân bỗng có bóng hào-quang sáng rực và có tiếng khóc “Oa! Oa…” của trẻ sơ-sinh.  Thì ra, phu-nhân Lê-Thái-Công vừa hạ-sinh được một cô con gái cùng lúc hương thơm tỏa bay ngào-ngạt khắp gian nhà.  Lão ông rách rưới bỗng biến mất.  Khi Lê-Thái-Công tỉnh dậy, ông kể lại rằng:

Lúc bất-tỉnh, Thái-Công thấy đằng trước ánh-sáng mờ ảo, có người dẫn ông đi qua mấy chặng đường, đến một nơi cửa-ngọc-lầu-vàng.  Tại đây có mấy trăm Tiên nữ áo quần tha-thướt, múa hát những khúc nghê-thường.  Họ cùng dâng rượu để chúc thọ cho Vương-Mẫu.  Giữa lúc đó, có một nàng Tiên áo hồng, nâng chén ngọc lỡ tay đánh rơi vỡ tan- tành chén quý.  Vương-Mẫu liền nổi giận sai hai thị-nữ áp-dẫn nàng tiên áo hồng ra lối cửa Nam.  Có một Tiên nữ khác cầm chiếc biển vàng đề hai chữ: “Sắc Giáng” (mang ý-nghĩa một nhan-sắc vừa bị giáng xuống trần-gian).  Người ở trên cung-đình cho Lê-Thái-Công biết đó chính là Tiên-Chúa Quỳnh-Nương, đã phạm lỗi nên bị giáng xuống trần làm người.  Ngay đúng lúc đó Lê-Thái-Công bừng tỉnh và nghe tiếng khóc của bé sơ-sinh, con mình!  Vì thế ông đặt tên nàng là Giáng-Tiên.

Khi Giáng-Tiên lớn lên, nhan-sắc đẹp lạ thường, học-hành thông-minh, lại có khiếu âm-nhạc, nhất là tài-năng xử-dụng ống Tiêu.  Giáng-Tiên sau đó kết duyên cùng Đào-Lang, là con trai một vị quan đã về hưu.  Về làm dâu nhà họ Đào, Giáng-Tiên một lòng hiếu-thuận.  Họ có được với nhau một người con trai.  Rồi ba năm sau, Giáng-Tiên lâm bệnh nặng và từ-giã cõi trần vào ngày mùng 3, tháng 3 (Âm-Lịch), lúc nàng mới 21 tuổi.

Giáng-Tiên mất đi để lại thương-tiếc cho tất-cả mọi người, nhất là phu-quân Đào-Lang cùng hai đấng phụ-mẫu Lê-Thái-Công.  Thấy mọi người trong gia-đình quá sầu thảm, một hôm Giáng-Tiên hiện về cho biết nàng là Đệ-Nhị-Tiên-Cung bị đầy xuống trần, nay phải về lại cõi Trời.  Cha Mẹ và Đào-Lang chớ nên u-sầu vì họ là những người ăn ở tốt lành, chuyên làm việc thiện nơi trần-gian.  Sau này thế nào cũng được hội-ngộ cùng Giáng-Tiên nơi Thiên-Quốc.

Tuy nhiên, Ngọc Hoàng thấy nàng chưa hết hạn đi đày, bắt nàng phải trở xuống thế-gian. Lần này, nàng xuất hiện dưới lốt một vị nữ Thần, đi theo là 2 ngọc nữ Quế-Nương và Thị-Nương. Theo lệnh Thiên-đình, ba vị Tiên nữ đã hiện xuống giữa ban ngày ở vùng Phố-Cát, tỉnh Thanh-Hóa.  Ba nàng Tiên đã lập chỗ trú ngụ giữa một nơi phong cảnh kỳ- tú của nước Việt. Chẳng mấy chốc, cả vùng đều biết tiếng vì những phép linh-ứng của các nàng.  Họ đã hiện ra là những cô gái nhan sắc, mở quán bán nước bên đuờng.  Những người đàn ông, thanh-niên xỗ-sàng, bất kính với các nàng đều bị thiệt-mạng.

Người trong làng biết chuyện, gọi nàng là Tiên-Chúa.  Từ đó Tiên-Chúa thường hiện lên ở khắp nơi.  Tương-truyền cũng cho rằng có lần nàng hiện ra ở Lạng-Sơn, Tiên-Chúa đã cùng Phùng-Khắc-Khoan đối đáp thơ-văn.  Có lần ở Hồ-Tây, Tiên-Chúa đã cùng Phùng-Công làm thơ, xướng-họa-liên-ngâm. 

Tin về đến Triều-đình, nhà Vua cho là yêu-quái.  Sai phù-thủy cùng binh-lính đến đèo Ngang để diệt-trừ.  Nào ngờ phù-thủy cùng toàn-thể quân lính đều bị tiêu-diệt. 

Vài tháng sau chứng dịch bệnh phát-sinh tại địa-phương.  Tiên-Chúa hiện ra cứu-thoát dân nghèo khỏi bệnh-tật.  Dân làng cùng nhau lập Đàn cúng Tế để tạ-ơn.

Sau đó, Tiên-Chúa được Hoàng-Đế là Vua Lê-Huyền-Tôn lúc bấy giờ hạ-chiếu cho Công-Bộ về tận nơi dựng ngôi đền thờ trên Phố-Cát và sắc phong nàng là “Mã Vàng Công-Chúa”.

Đến đời Vua Cảnh-Hưng, khi giặc Mèo nổi loạn.  Quận-Công Phan-Văn-Phái khi kéo quân đến đèo Ngang đã vào đền Tiên-Chúa quỳ xuống khẩn-cầu và ngày hôm sau đánh tan được giặc Mèo.  Trước công-trạng ấy, triều-đình sắc-phong cho Công-Chúa làm “Chế-Thắng-Bảo-Hòa-Điệu-Đại-Vương”.  Ngày nay là đền thờ Công-Chúa Liễu-Hạnh Ngôi đền này nổi tiếng rất linh-thiêng.

Vào cuối đời Lê, có một vị lão quan 80 tuổi, một hôm nằm mộng thấy Công-Chúa Liễu- Hạnh đi giữa 2000 Tiên nữ theo hầu, mang đến cho ông một chiếu sắc của Ngọc-Hoàng. Trong giấc mơ, ông thấy Công-Chúa Liễu-Hạnh lên xe mây, có nhiều cờ-xí lộng-lẫy trùng-điệp dẫn đường, và thấy có vô-số nhạc-công đi theo. Người ta đoán rằng Công-Chúa đã mãn kỳ-hạn ở trần-gian, nay đã trở về Thiên-Quốc.

Sau khi Liễu Hạnh về Trời, hai tiên nữ Quế-Nương và Thị-Nương thường đứng ra làm trung-gian cho dân-chúng cầu xin đến Công-Chúa Liễu-Hạnh. Dân-gian tin-tưởng bà Chúa Liễu, lập đền thờ bà khá trọng-thể ở Phủ-Giầy, Nam-Định, nơi bà đầu thai. Dân cũng lập đền thờ Bà Chúa Liễu ở Phố-Cát và Đền Sòng tại Thanh Hóa, nơi bà xuống trần lần thứ hai.

                                      Đền Sòng, tỉnh Thanh-Hóa nơi thờ Liễu-Hạnh Công-Chúa.

Tại Hà Nội, có Đền Sùng-Sơn ở đường Hàng Bột, thờ phượng bà Chúa Liễu. Hàng năm, đến ngày húy, người ta tưng-bừng rước Lễ, dân chúng đã đi trảy hội rất đông.  Nhất là người dân thuộc các tỉnh Nam-Định, Ninh-Bình & Thanh-Hóa.

 
Đám rước mừng lễ ngày húy Công-Chúa Liễu-Hạnh.

Đám rước tại hội Phủ-Giày có cuộc kéo chữ bởi mấy ngàn người.  Có năm họ kéo mấy chữ như: “Thiên-Hạ-Thái-Bình”, hoặc “Phong-Đăng-Hòa-Cốc”, “Quốc-Thái-Dân-An” hay “Vũ-Giáng-Dân-Duyệt”.  Ý nói lên lòng dân, xin Công-Chúa Liễu-Hạnh dâng lên Ngọc-Hoàng Thượng-Đế những ước-nguyện được sống trong an-lạc, hòa-bình, cơm no, áo ấm, vượt thoát mọi nghịch cảnh hoặc tai-ương trong cuộc đời.

Một nhạc-sĩ lão-thành trong nền âm-nhạc Việt-Nam đã mượn cung điệu của từng nốt nhạc, lời ca để dệt nên bài hát mang tên “Cành Hoa Trắng”; chính là chuyện kể về “Công Chúa Liễu-Hạnh” là một trong những vị Thần nữ đã được dân-gian Việt-Nam vô cùng sùng bái và tôn thờ:

“Một đàn chim tóc trắng
Bay về qua trần gian
Báo tin rằng : Có Nàng Giáng Hương
Nàng ngồi trên cung vắng
Trong một đêm tàn trăng
Phá then vàng bước vào vườn hoang.
Không gian tràn dâng niềm thương
Rồi tiếng hát sui cuộc tình duyên
Bao nhiêu nàng tiên nỉ non
Làm huyên náo Thiên Đường lạnh lẽo.
Trời đầy cô tiên nữ
Xuống đầu thai thành hoa
Giữa đêm mờ, hoa nở ngát hương
Người về trong đêm tối
Ôm cành hoa tả tơi
Bóng in dài gác đời lẻ loi.”

Nhân mùa Lễ Hội Phủ-Giầy.  Cúi cầu xin Công-Chúa Liễu-Hạnh ban ơn cho người dân lành đất Việt được sống đời cơm no, áo ấm.  Hết cảnh đói khổ, bệnh hoạn, lam lũ, lầm than.  Người người được thoát cảnh Thiên-Tai, Sóng-Thần, Động-Đất đang đe dọa khắp nơi nơi trên Thế-Giới.   Và nhất là xin ban Phước-Lành đến những ai có tấm lòng Bác-Ái, Thiện-Tâm.

                                                                     www.diamondbichngoc.com
                                                                       (Tài-Liệu tháng Tư, 2011)



Tài-Liệu Tháng 3, 2011:


 

TRẨY HỘI CHÙA HƯƠNG.

                                                 Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.

Đối với những người theo đạo Thiên-Chúa thì thời-gian này được gọi là mùa Chay.  Mùa Chay bắt đầu từ thứ Tư - Lễ Tro.  (Ash Wednesday).  Năm nay, rơi vào ngày 9, tháng 3, 2011.  Kéo dài 40 ngày; nhằm suy niệm việc Đức Chúa Giê-Su đi vào sa-mạc cát bụi khô cháy để cầu nguyện và quyết liệt chống lại với những cám dỗ của ma-quỷ.  Gồm ba thù: Thể-Xác, Địa-Vị cùng Vật Chất (tiền-bạc).  Ngày Chúa-Nhật hàng tuần không được tính trong 40 ngày của mùa Chay.  Do đó đến hết ngày thứ Bảy 23, tháng 4; bước qua 24, tháng 4, 2011 sẽ là  Chúa-Nhật Phục-Sinh (Easter Day). 

Ngài cũng là tấm gương cho người đời noi theo hầu biết tin-tưởng, hãm mình, ăn chay, tu thân, biết kìm-chế trước những đam mê danh vọng, xác-thịt, của cải thế-gian.  Con người được tạo thành từ cát bụi.  Khi nhắm mắt xuôi tay chẳng mang đi được gì vì tro bụi sẽ trở về cùng tro bụi; xác thịt sẽ rã nát nhưng linh-hồn thì vĩnh-cửu an vui ở chốn Thiên-Đàng. Nếu:  Nhân-gian biết tránh dữ, làm lành.  Biết tu thân, tích đức, biết sống trong tình bác-ái, bao dung và nhất là biết kính sợ Đấng tạo thành vũ-trụ.  Đó là Trời.  (Vì một khi con người khi biết sợ Trời, họ sẽ không dám làm điều gì độc ác hoặc loạn-luân vì sợ đến ngày sau cùng sẽ bị Trời phán xét.)

Cũng trong thời-gian này, sau dịp Tết Nguyên-Đán, thì những người Phật-Giáo tại miền Bắc nước Việt-Nam đang lũ lượt rủ nhau đi trẩy hội Chùa Hương để xin lộc & cầu phước, cầu an.

Chùa Hương còn được gọi là chùa Hương-Tích, một thắng cảnh của nước Việt-Nam đã được vua Lê-Thánh-Tôn tặng cho danh hiệu là “Nam Thiên Đệ Nhất Động”.  Chùa nằm trên địa-phận làng Yên-Vĩ, phủ Mỹ-Đức, tỉnh Hà-Đông.  Hằng năm hội Chùa Hương mở từ đầu tháng Giêng đến cuối cuối tháng 2 (Âm-Lịch).  Ngày chính của hội là Rằm tháng 2 (Âm-Lịch).  Nhằm ngày 19, tháng 3, 2011 (Dương-Lịch).

Nơi đây bầu Trời cảnh Bụt.  Còn được gọi là Hương-Sơn, gồm nhiều ngôi chùa rải rác nằm trong những dãy núi đá vôi.  Chùa chính thiết lập trong một động lớn thờ Phật-Bà-Quan-Âm cùng với nhiều vị Phật.  Đường đi đến chùa Hương có hai lối: đường bộ hoặc đường thủy.  Đường nào cũng dẫn tới bến Đục hoặc bến Hà-Đoan và phải đi bằng đò suối.  Bến Đục là địa đầu Hương-Sơn với phong cảnh rất bao la, hùng-vĩ.
 
“Bến Đục”

Trên bến Đục chen chân người đi trảy hội.  Ai nấy đều tay sách, nách mang (vàng, hương, xôi oản và đồ lễ).  Dù không quen biết cũng chào nhau bằng những lời niệm Phật: “Nam-Mô-A-Di-Đà”.  Tất-cả đều hướng về Đức Phật-Bà-Quan-Âm cầu mong mọi sự từ-bi, hỷ-xả.  Xin Phật-Trời tha thứ, cứu độ lỗi lầm của chúng-sinh hầu có được một ngày mai an-bình, tươi sáng, hạnh-phúc trong cuộc sống vốn dĩ quá ô-trọc hôm nay.

Từ bến Đục sẽ đến đò Suối; một giòng nước mát quanh co chảy qua cánh đồng Chiêm.  Hai bên bờ suối là những ruộng mạ non xanh mơn mởn chạy suốt tới chân Trời hoặc đến chân một ngọn núi xa xa.  Dọc đò suối, người ta sẽ nhìn thấy được núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng, động Tuyết-Quỳnh cũng như chùa Trình hay hang Phật-Tích.

 
“Đò Suối”

Tại-sao lại có tên gọi là chùa Trình?  Được giải-thích rằng khách đi trẩy hội vào chùa Hương như trình-diện trước khi tới cảnh Phật và khách ra về cũng vào lễ chùa này bái tạ để từ-giã cảnh Hương-Sơn.

Sau chùa Trình sẽ đến chùa Long-Sơn.  Nơi đây có một động thạch-nhũ tuyệt đẹp.  Khi thấy được ngọn núi Mâm-Xôi, Con Gà sừng sững hiện ra là sắp tới chùa Ngoài tức là chùa Thiên-Trù.  Đây là một kỳ-quan giữa chốn sơn-lâm.  Trong chùa hương-trầm thơm bát ngát, mõ hòa nhịp điệu, chuông vẳng ngân-nga.  Ngoài rừng chim ca ríu rít, vượn hát véo von.  Tô điểm cho cảnh lâm-truyền tĩnh-mịch càng thêm mơ màng, huyền diệu. 

Từ chùa Thiên-Trù, tức chùa Ngoài vào chùa Trong.  Đường đi khúc-khủy, gập ghềnh nhưng cảnh đẹp tuyệt-trần.  Sẽ có lối dẫn lên chùa Tiên; xây liền với một động đá nhỏ có nhiều thạch-nhũ rũ xuống mỹ miều. 

Từ chùa Tiên sẽ đến chùa Giải-Oan.  Tục truyền cho rằng nơi đây có một giếng nhỏ do một mạch nước tự-động trong núi đá chảy ra thành giòng suối nước trong và mát, nếu uống nước giếng này, người ta sẽ được thanh-thản, an bình và những nỗi oan-khiên, sầu muộn sẽ được cứu giải nhờ ơn Phật-Trời độ-trì, phù-hộ.
 
“Chùa Giải-Oan”

Từ chùa Giải-Oan sẽ qua chùa Cửa-Võng rồi mới đến chùa Trong.  Đây chính là động Hương-Tích ở gần đỉnh núi, ngay cửa động là một giải thạch-nhũ từ trên rũ xuống có đề chữ “Nam-Thiên-Đệ-Nhất-Động” của vua Lê-Thánh-Tôn.  Động Hương-Sơn có tượng thờ Đức Phật-Bà-Quan-Thế-Âm-Bồ-Tát và Chư-Vị La-Hán.  Tục-truyền cho rằng ngay tại nơi đây Đức Phật-Bà đã tu thành chính-quả, từ đó mới có tên gọi là động Hương-Tích.

"Tượng Phật-Bà-Quan-Thế-Âm-Bồ-Tát trong động Hương-Tích”

Rất nhiều khối thạch-nhũ từ dưới đất đùn lên và từ trên trần rũ xuống trong một không gian rộng lớn, ngăn phần trong cùng động thành mấy lớp nhũ đá óng-ánh, muôn màu kỳ-ảo.  Lạ nhất là có những nhũ đá khi gõ vào nghe như tiếng chuông, tiếng khánh.  Có những nhũ đá như hình em bé.  Người ta gọi là hình “Cô”, hình “Cậu.  Những gia-đình hiếm muộn con, khi đến đây thường cầu Trời, khấn Phật và dùng tay vuốt ve những nhũ đá đó như để rủ về với họ.  Trong động Hương-Tích còn có đường lên Trời và đường xuống  Âm-Phủ.

“Thạch-Nhũ trong động Hương-Tích”

Về Văn-Học; một thi-sĩ lão thành cũng là một trong những nhà thơ cổ cuối cùng.  Trong tập “Sơn Nhân Nhàn Bút”, xuất bản năm 1959 có vịnh bài thơ về chùa Hương-Tích như sau:

“Nam Thiên Đệ Nhất Động Hương-Sơn
Riêng Thú Thanh Cao Cảnh Núi Ngàn
Cõi Phật Bốn Mùa Thừa Thụy-Khí
Bầu Trời Muôn Trạng Góp Kỳ-Quan
Hữu Tình Núi Tượng, Gà, Chiêng, Trống
Vô Tận Kho Tơ Tóc Bạc Vàng
Có Lối Lên Trời Đường Xuống Đất
Long Lanh Cẩm-Thạch Rọi Hào-Quang”.


Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi-ca Việt-Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu-Mạnh-Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợi:

“Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
...
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...”


Riêng bài "Chùa Hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất hai nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung Đức :

“Hôm qua đi chùa hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương…”


Nói về niềm tin tín-ngưỡng;  chùa Hương-Tích nổi tiếng linh-thiêng và được coi là một kỳ-quan của nước Việt-Nam.  Mỗi năm người ta rủ nhau đi trẩy hội vào mùa này không ngoài mục đích xin Phật Trời ban ơn, ban phước.  Nhiều người quên rằng nếu chỉ đi lễ chùa van xin cúng vái mà đời sống thường nhật không biết tu-tâm, dưỡng tánh thì mãi hoài vẫn sống trong đau khổ, trầm luân.

Ai trong chúng ta dường như cũng cảm-nghiệm được rằng nếu người nào lúc khỏe mạnh mà cách sống gian-tham, ích-kỷ, lừa gạt, trác táng, bài bạc, ham mê tửu-sắc, cướp của, giết người… Không chờ gì đến sau khi chết đi linh-hồn họ mới bị lưu đày trong hỏa-ngục kiếp kiếp, đời đời.  Luân hồi (Karma) diễn ra ngay trong cõi hiện-sinh này, khi những người càng sống độc ác, cay nghiệt bao nhiêu thì những ngày cuối đời họ sẽ quằn quại trong đau khổ, bệnh tật.  Muốn chết bình-an mà không sao nhắm mắt, xuôi tay được. 

“Karma: Bánh Xe Luân-Hồi”.

“Đạo” là “Con Đường”.  “Tu” là “Sửa”.  Biết sửa đổi cách sống để trở thành thánh-thiện và biết tin vào thuyết “Nhân Nào Quả Ấy”, tu thân tích đức sẽ giúp chúng ta lánh xa những con đường bất thiện.  Nếu gây nhân xấu thì sẽ gặt quả xấu; khi làm những việc có bản chất tốt thì kết quả là ta được an-vui.  Đời người có Sinh, có Tử, ai ai cũng cần tìm lấy phương-cách Sống hạnh-phúc và Chết an-bình.  Xin cầu nguyện chư Bụt và Bồ-Tát gia-hộ cho tất cả chúng ta, ai cũng được tinh-tấn, vững vàng trên con đường sống và giải-thoát nghiệp-chướng trong đời.

                                                             Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.